CÂY SỰ SỐNG VÀ CÂY KIẾN THỨC

Thơ: Thanh Hữu

CÂY SỰ SỐNG VÀ CÂY KIẾN THỨC    

Chẳng có sự khôn ngoan nào, sự thông minh nào, hay là mưu kế nào, Mà chống địch Đức Giê-hô-va được. ( Châm-ngôn 21:30 )

Cây kiến thức, là cây biết thiện ác,
Đặt trong vườn phước hựu thuở sơ khai.  [1]
Được nhìn xem, gần gủi, trông bề ngoài,
Được rờ chạm. Đừng bao giờ ăn đến.

Cây đẹp mắt, trái tươi ngon trìu mến,
Được gọi mời, khuyến dụ bởi rắn xưa.  [2]
Luận lý rằng, đây tri thức dư thừa,
Hãy ăn thử, khôn ngoan bằng Thiên Chúa.

Một lầm lỡ, tổ tiên buồn muôn thủa,
Ăn trái vào, tách biệt Chúa Thần Linh.
Chịu khổ đau, lao nhọc  suốt đời mình,
Thân buị đất, chết tàn theo đất bụi.

Cây tri thức, vẫn còn, chưa tàn lụi,
Hiện thân thành, cây công nghệ văn minh.
Đầy tiện nghi, đầy màu sắc quanh mình,
Đầy tin tức, đầy khôn ngoan trần thế.

Xin cẩn thận, đừng đam mê nó nhé,
Được chạm rờ, lướt tin tức, ngợi ca.
Đừng tin vào những luận lý kiêu sa,
Đầy vô tín, đầy đam mê tội lỗi.

Cây sự sống, Chúa Thần Nhân mở lối,
Mời ta vào, tin cậy Đấng quyền năng.
Được thứ tha, nhận trái sống vĩnh hằng,  [3]
Trong ân sủng, đầy tin yêu bất diệt.

Cây sự sống, đầy khôn ngoan hiểu biết,  [4]
Theo chương trình, theo mục đích tuyệt luân.
Mở tâm linh, trí khai phóng khôn cùng,
Từ trái đất đến thiên đàng vinh hiển.

Ta cẩn thận, hướng tâm linh thầm nguyện,
Xin giữ lòng, giữ trí khỏi vấn vương.
Xa “fake news”, xa luận lý hoang đường,
Đặt lòng trí, vào quyền năng chân Chúa.

THANH HỮU
Tháng 3 năm 2021

[1] Sáng-thế ký 2:9
[2] Sáng-thế Ký 3:1,13
[3] Khải-huyền 2:7
[4] Châm-ngôn 11:30

Công Dã Tràng

Dưỡng Linh: Ngọc Huỳnh Bích

“Uổng công thay cho các ngươi thức dậy sớm, đi ngủ trễ, và ăn bánh lao khổ; Chúa cũng ban giấc ngủ cho kẻ Ngài yêu mến bằng vậy.” – Thi-thiên 127:2

Thi-thiên 127, chỉ có 5 câu, là một bài thơ thánh nói về “gia đình thịnh vượng nhờ Đức Giê-hô-va mà có.” Một số học giả Kinh Thánh cho rằng Thi-thiên này được viết bởi vua Sa-lô-môn; một số khác thì cho rằng, Thi-thiên này do vua Đa-vít viết gửi cho con trai của ông là vua Sa-lô-môn. Thi-thiên 127 cho chúng ta một chân lý, đó là, mọi sự thành đạt đều do Đức Giê-hê-va ban cho; con người có thể xây cất nhà cửa, thành phố, cai quản, nhưng nếu Chúa không cho phép thành đạt thì mọi việc làm đều uổng công. Chúng ta có thể hát Thi-thiên 127 để tôn vinh Chúa vì Ngài là Đấng ban cho mọi sự, và cũng để nhắc nhở chính mỗi chúng ta rằng, chúng ta cần tìm kiếm ý Chúa trước khi làm việc gì, phải tin cậy, hướng mắt lòng lên Đức Chúa Trời để thành công trong mọi công việc mà chúng ta dự định.

Trong câu 2, tác giả bày tỏ lòng hối tiếc cho những ai “thức dậy sớm, đi ngủ trễ, và ăn bánh lao khổ”; đó là những người ra công làm việc hết sức mình, hầu cho họ được của cải dư dật, giàu có như mình mong muốn, nhưng kết quả thì “công dã tràng,” như dân gian có câu: “Dã Tràng xe cát biển Đông. Nhọc lòng mà chẳng nên công cán gì.” (1) Trong cuộc sống hằng ngày, những người dậy sớm, đi ngủ trễ (theo Thi-thiên 127:2), là những người có thể nói là “siêng năng quá độ, mà chẳng cộ được gì!” Đây là những người không ngại gian khổ, ngủ ít, thức dậy sớm, đi làm nhiều. Chính vì thế mà họ phải nếm mùi “lao khổ”, cực nhọc! Hậu quả là sự khổ cực đã lấy mất giấc ngủ bình an của họ, và thay vào đó là phải “ăn bánh lao khổ”, ngủ không an giấc! Giống như người Truyền-đạo nói, “Điều nầy cũng là một tai nạn lớn: người ra đời thể nào, ắt phải trở về thể ấy. Vậy, chịu lao khổ đặng theo luồng gió thổi, có ích lợi gì chăng? Lại trọn đời mình ăn trong sự tối tăm, phải nhiều sự buồn rầu đau đớn và phiền não” (Truyền-đạo 5:16-17).

Tất cả những người cố gắng theo sức riêng, để có được nhiều tiền, của cải như mình mong muốn, đều vô ích! Điều sai lầm ở đây là họ đã không nhận biết rằng, sự thịnh vượng đến từ Đức Chúa Trời, vì sự giàu có không phải lúc nào cũng dành cho những người có kinh nghiệm, có hiểu biết, sẵn sàng chịu khổ, siêng năng theo ý riêng. Người Truyền-đạo đã kinh nghiệm điều này, ông nói, “Ta xây lại thấy dưới mặt trời có kẻ lẹ làng chẳng được cuộc chạy đua, người mạnh sức chẳng được thắng trận, kẻ khôn ngoan không đặng bánh, kẻ thông sáng chẳng hưởng của cải, và người khôn khéo chẳng được ơn; vì thời thế và cơ hội xảy đến cho mọi người. Lại, loài người chẳng hiểu biết thời thế của mình: như cá mắc lưới, chim phải bẫy dò thể nào, thì loài người cũng bị vấn vương trong thời tai họa xảy đến thình lình thể ấy” (Truyền-đạo 9:11-12). Chính Đức Chúa Trời đã định trước số ngày của đời sống của mọi người, “Mắt Chúa đã thấy thể chất vô hình của tôi; số các ngày định cho tôi, Đã biên vào sổ Chúa trước khi chưa có một ngày trong các ngày ấy” (Thi-thiên 139:16).

Chúa yêu mến những ai yêu mến Ngài, “Ta yêu mến những người yêu mến ta, Phàm ai tìm kiếm ta sẽ gặp ta” (Châm-ngôn 8:17); “Vì Đức Giê-hô-va là công bình; Ngài yêu sự công bình: Những người ngay thẳng sẽ nhìn xem mặt Ngài” (Thi-thiên 11:7). “Sự kính sợ Đức Giê-hô-va, ấy là ghét điều ác; Ta ghét sự kiêu ngạo, xấc xược, con đường ác, và miệng gian tà” (Châm-ngôn 8:13). Những ai kính sợ Đức Chúa Trời, và làm theo Lời Ngài, thì Chúa sẽ ban cho họ sự bình an trong tâm hồn, họ sẽ sống rất vui vẻ và thỏa lòng. Sự quan tâm quá mức đến những thứ của thế giới này là một điều vô ích và hư không. Chúng ta sẽ mệt mỏi, chán nản vì đắm chìm vào vật chất thế gian một cách vô ích, mà không giữ linh hồn mình tin cậy nơi sự ban cho của Đức Chúa Trời. Lời Chúa phán qua tiên tri A-ghê, để cáo trách dân Ngài khi họ lo sắm sửa cho nhà riêng mình, nhưng lại bỏ bê Nhà Chúa, “Các ngươi gieo nhiều mà gặt ít; ăn mà không no; uống mà không đủ; mặc mà không ấm; và kẻ nào làm thuê, đựng tiền công mình trong túi lủng … Các ngươi trông nhiều mà được ít; các ngươi đem vào nhà, thì ta đã thổi lên trên. Đức Giê-hô-va vạn quân phán: Ấy là tại làm sao? Ấy là tại nhà ta thì hoang vu, mà các ngươi ai nấy lo xây nhà mình” (A-ghê 1:6, 9). Hãy học từ dân Y-sơ-ra-ên, đừng bước vào vết xe cũ mà rơi vào sự luống công trong thế gian này!

Đức Chúa Trời ban cho loài người chúng ta ban ngày để làm việc, và ban đêm để ngủ. Giấc ngủ thể xác là món quà cần thiết cho sự sống con người, như tác giả Thi-thiên 127 nói, “Chúa cũng ban giấc ngủ cho kẻ Ngài yêu mến bằng vậy” (Thi-thiên 127:2b). Chúng ta phải biết ơn Chúa đã ban cho chúng ta giấc ngủ bình an, như vua Đa-vít ca ngợi Chúa, “Hỡi Đức Giê-hô-va, tôi sẽ nằm và ngủ bình an; vì chỉ một mình Ngài làm cho tôi được ở yên ổn” (Thi-thiên 4:8). Đối với tiên tri Giê-rê-mi, Chúa phán với ông, “… Ta đã làm cho lòng mệt mỏi được no nê, và mỗi lòng buồn rầu lại được đầy dẫy” (Giê-rê-mi 31:25), và khi ông “… thức dậy, thấy giấc ngủ …ngon lắm” (Giê-rê-mi 31:26). Chúa ban cho con dân Ngài giấc ngủ an lành, đó là sự yên tĩnh trong tâm hồn mãn nguyện, tận hưởng những gì Chúa ban mỗi ngày, và một sự trông đợi vui mừng về những gì sẽ xảy ra ở tương lai!

Trách nhiệm của chúng ta là phải giữ mình trong tình yêu thương của Đức Chúa Trời, “… phải hết lòng, hết ý, hết sức kính mến…” Chúa (Phục-truyền Luật-lệ Ký 6:5); “… phải tìm cầu Giê-hô-va Đức Chúa Trời …, cùng làm theo luật pháp và điều răn của Ngài” (2 Sử-ký 14:4); hầu cho, chúng ta có thể sống bình an, vui thỏa; cho dù chúng ta có ít hay nhiều của cải trên thế giới này! Hãy làm theo lời Chúa Giê-su đã dạy, “… trước hết, hãy tìm kiếm nước Đức Chúa Trời và sự công bình của Ngài, thì Ngài sẽ cho thêm … mọi điều ấy nữa” (Ma-thi-ơ 6:33). Đừng làm công dã tràng mà uống công lao khổ của mình, giống như: “Còng còng dại lắm không khôn, luống công xe cát sóng dồn lại tan!” (2) Đừng để cho hạt giống đức tin của chính mình là “phần rơi vào bụi gai, là những kẻ đã nghe đạo, nhưng rồi đi, để cho sự lo lắng, giàu sang, sung sướng đời nầy làm cho đạo phải nghẹt ngòi, đến nỗi không sanh trái nào được chín” (Lu-ca 8:14). Nguyện xin Chúa giúp chúng con luôn tìm kiếm ý Chúa, làm theo Lời Ngài, sanh bông trái Thánh Linh, sống làm vinh hiển Danh Chúa; hầu cho đời sống chúng con luôn được yên ổn, vui mừng, và thỏa lòng mãi mãi trong tình yêu đời đời của Ngài! Amen!


Đời người thấm thoát qua mau,
Nguyện làm bài hát truyền rao Danh Ngài,
Vui mừng còn sống hôm nay,
Quên đi phiền muộn, nhớ ngày bình an!
Mọi điều ta có, Chúa ban,
Phải tìm Ý Thánh, sằn sàng làm theo,
Dù cho có lúc ngặt nghèo,
Nhưng lòng vẫn giữ chắc neo nơi Ngài!

Ngọc Huỳnh Bích

Ghi chú:
“Uổng công thay cho các bạn là những người dậy sớm, thức khuya, và ăn uống kham khổ, Vì Chúa sẽ cho những người Ngài thương no đủ, ngay cả khi họ an giấc ngủ say.” – Thi-thiên 127:2 (BD2011)
“Thật vô ích cho tất cả các ngươi Là người dậy sớm, thức khuya, Lao khổ để kiếm miếng ăn. Vì Chúa cũng ban giấc ngủ cho những người Ngài yêu mến như vậy.”- Thi-thiên 127:2 (BDM)
“Thật vô ích cho người thức khuya dậy sớm, lao nhọc kiếm ăn; trong khi Chúa ban giấc ngủ êm đềm cho người Chúa thương.”- Thi-thiên 127:2 (KTHĐ)
(1), (2) “Sự tích con Dã Tràng”, http://vanhoc.xitrum.net/truyencotich/vietnam/2006/9.html

Chúa Chết Vì Ta

Thơ: Tiểu Minh Ngọc

“Vả, họa mới có kẻ chịu chết vì người nghĩa; dễ thường cũng có kẻ bằng lòng chết vì người lành. 8 Nhưng Đức Chúa Trời tỏ lòng yêu thương Ngài đối với chúng ta, khi chúng ta còn là người có tội, thì Đấng Christ vì chúng ta chịu chết.” – Rô-ma 5:7-8
“Ngài đã không tiếc chính Con mình, nhưng vì chúng ta hết thảy mà phó Con ấy cho, thì Ngài há chẳng cũng sẽ ban mọi sự luôn với Con ấy cho chúng ta sao?” – Rô-ma 8:32
“Ai sẽ lên án họ ư? Đức Chúa Jêsus Christ là Đấng đã chết, và cũng đã sống lại nữa. Ngài đang ngự bên hữu Đức Chúa Trời, cầu nguyện thế cho chúng ta.” – Rô-ma 8:34

Có ai chịu chết vì ta,
Con người tội lỗi xấu xa khôn lường?
Bao năm ta đã sai đường,
Làm điều dối gạt xem thường tâm linh,
Không lo sửa đổi thân mình,
Luông tuồng chẳng biết đời mình về đâu!

Nhờ tình yêu Chúa ban đầu,
Yêu người tội lỗi mặc dầu thời gian,
Tin Lành cứu chuộc Cha ban,
Giê-su Đấng Christ gánh mang mọi điều!
Đóng đinh đau đớn bao nhiêu,
Chỉ vì Ngài quá thương yêu nhân loài!

Xin anh hãy đến gặp Ngài,
Nhận vào Ân Điển không thay bao giờ,
Ngài là Đấng đáng tôn thờ,
Vẫn yêu anh đó, đang chờ đợi anh!
Nhận Ngài làm Đấng quản canh,
Cạnh bên chỉ dẫn đời anh trong Ngài,
Hãy kinh nghiệm Chúa hôm nay,
Quyền năng Đấng Christ đổi thay cuộc đời!

Tiểu Minh Ngọc

CHUYỆN…NỤ HÔN

Văn: MS Nguyễn Đình Liễu

Kinh thánh: Ma-thi-ơ 26: 14, 15; Lu-ca 7: 37, 38; 22: 47, 48; Mác 14: 21 (*)

Kính chào quý độc giả,

Không biết tự bao giờ, tôi đã thuộc lòng một số đoạn lời dễ thương trong bài hát cũng rất dễ thương “TRẢ LẠI EM YÊU”của nhạc sĩ Phạm Duy như sau:

“…Trả lại em yêu, khung trời Đại Học
Con đường Duy Tân cây dài bóng mát
Buổi chiều khuôn viên mây trời xanh ngát
Vết chân trên đường vẫn chưa phai nhạt

Trả lại em yêu, khung trời mùa Hạ
Ngọn đèn hiu hiu nỗi buồn cư xá
Vài giọt mưa sa hôn mềm trên má
Tóc em thơm nồng, dáng em hiền hòa.

Trả lại em yêu con đường học trò
Những ngày Thủ Đô tưng bừng phố xá
Chủ nhật uyên ương, hẹn hò đây đó
Uống ly chanh đường, uống môi em ngọt…”

Bài hát đó nói đến những nụ hôn của tuổi học trò thật lãng mạn khó quên. Làm sao quên được những lần đôi tình nhân đi bên nhau dưới những hàng cây dài bóng mát trong khuôn viên trường Đại Học. Làm sao quên được những đêm mùa Hạ trong cư xá với “tóc em thơm nồng, dáng em hiền hòa”. Làm sao quên được những Chủ nhật hẹn hò với nhau bên những ly chanh đường và với những nụ hôn ngọt ngào dành cho nhau…Làm sao quên được mối tình học trò đầy lãng mạn như thế, khi anh phải từ biệt em yêu để ra đi làm lính chiến, “chẳng mong ngày về”.

Lời bài hát thật tha thiết và ngập tràn những cảm xúc yêu thương với những nụ hôn nồng cháy phải không bạn?

Tôi tin rằng có rất nhiều người trong thế hệ của chúng tôi và trước chúng tôi đã từng hát và thuộc lòng bài hát thật dễ thương nầy, cho đến bây giờ vẫn chưa chịu…quên cho.

Những thế hệ sau nầy, và ngay cả cho đến ngày hôm nay, tôi được biết vẫn còn nhiều bạn trẻ vẫn tìm hát bài hát nầy với tất cả lòng yêu mến nó.

Đó chính là sức sống tự nhiên của một bài hát, một bài hát được viết từ một trái tim đã và đang yêu, nên có một sức sống vượt thời gian. Điều nầy khác rất xa với những loại bài hát được viết để tuyên truyền cho một chủ nghĩa hay một chủ trương nào đó, rồi ra sẽ đi vào quên lãng mà thôi.

Thật độc đáo, khi Đức Chúa Trời đã tạo dựng nên con người và cho họ biết hôn nhau để biểu lộ tình cảm của mình. Qua nụ hôn người ta dành cho nhau, có nhiều sắc thái tình cảm khác nhau được thể hiện trong đó, như nụ hôn bày tỏ tình thương của cha mẹ dành cho con cái hoặc ngược lại; hay nụ hôn của vợ chồng dành cho nhau để thể hiện tình yêu của họ với nhau; hoặc nụ hôn của các đôi tình nhân trao cho nhau bày tỏ tình cảm yêu đương trai gái ngọt ngào, đẹp đẽ vô ngần như nụ hôn trong Nhã ca: “Hỡi tân phụ ta, môi mình nhỏ mật ong xuống. Dưới lưỡi mình có mật ong và sữa. Hơi thơm của quần áo mình như hơi thơm của Li-ban.” (Sách Nhã ca, chương 4, câu 11)

Có một số những câu danh ngôn hay nói về nụ hôn như sau:

+ Đời sống cần nụ hôn và nụ hôn cần đời sống. (Victor Hugo)

+ Khi người phụ nữ giận, bốn nụ hôn nhẹ cũng đủ an ủi nàng. (Goldoni)

+ Những cái hôn vụng trộm bao giờ cũng ngọt ngào nhất… (Leigh Hunt)

+ Trước khi cưới, cô gái phải hôn chàng trai để giữ chàng; sau khi cưới, nàng phải giữ chàng để hôn chàng… (Danh ngôn Mỹ)

+ Đàn ông mất phương hướng sau bốn ly rượu; đàn bà mất phương hướng sau bốn nụ hôn. (Henry Louis Mencken)

 

+ Ôi nụ hôn! thức uống nhiệm mầu mà những bờ môi rót cho nhau như những chiếc ly khao khát… (Alfred de Musset)

+ Khi trái tim tràn đầy thì đôi môi sẽ mở ra. (Hoffman)

Ông cha ta thì nói về nụ hôn qua ca dao như thế nầy:

+ Nước trong ai chẳng rửa chân

Cái má trắng ngần ai chẳng muốn hôn.

+ Bớ cô má lúm đồng tiền
Cho hun một chút đỡ ghiền khi xa

+ Thấy em gò má hồng hồng
Phải chi em đừng mắc cỡ, anh bồng anh hun.

+ Xung quanh cô bác giáp vòng
Anh muốn hun về chốn loan phòng sẽ hun.

+Trứng vịt đổ lộn trứng gà
Thấy em má đỏ anh đà muốn hun

+Muốn hun về nói với mẹ cha
Tiền cheo heo cưới, tới nhà em hun

+ Dẫu rằng chẳng đặng bén duyên
Cũng hun má lúm đồng tiền của em

Còn trong thơ ca, tôi nhớ đã đọc được đâu đó lâu lắm rồi mấy vần thơ về nụ hôn mà cho đến bây giờ vẫn nhớ như in những vần thơ dễ thương ấy, không chịu quên cho:

Mười năm chừng mới hôm nay

Hương trinh ngây ngất còn say đắm hồn

Con nghe thơm nụ môi hôn

Còn nghe rung động lần hôn buổi đầu.

(Thơ Hà Liên Tử)

Ôi chao, cái nụ hôn lần đầu tiên của đôi lứa yêu nhau sao mà đáng yêu, sao mà ngây ngất, sao mà đắm say đến thế; và sao mà khó quên đến thế, mười năm rồi mà cứ tưởng như mới đâu đây hôm qua, hôm nay mà thôi!

Người ta cho biết, nước Nga là nơi đầu tiên đem nụ hôn vào trong Lễ cưới, như một cách thể hiện sự cam kết là đôi vợ chồng sẽ sống bên nhau cho đến trọn đời.

Người La Mã lấy nụ hôn để thay cho lời chào. Hoàng đế La Mã cho phép dân chúng tỏ lòng sùng kính mình bằng cách hôn lên người ông từ chân tới má.

Bạn bè thì dành cho nhau nụ hôn ở trên má. Những đôi lứa yêu nhau thì dành cho nhau nụ hôn trên đôi môi. (1)

Trong Kinh Thánh có đề cập đến những nụ hôn để lại cho chúng ta nhiều điều cần suy gẫm.

Nhân mùa Chay năm nay, xin mời quý độc giả cùng…điểm lại một vài nụ hôn trong Kinh Thánh:

Từ Cựu Ước đến Tân Ước, có đề cập đến những nụ hôn với nhiều ý nghĩa khác nhau.

Trong Cựu Ước, có những nụ hôn bày tỏ sự tha thứ, như nụ hôn của Đa-vít dành cho Áp-sa-lôn, con trai mình:

“Vậy, Giô-áp đi đến vua, thuật lại các lời ấy. Vua bèn đòi Áp-sa-lôm đến; người vào đền vua, sấp mình xuống trước mặt vua, và vua hôn Áp-sa-lôm.” (Sách II Sa-mu-ên, chương 14, câu 33)

Hay nụ hôn ban ơn huệ của Đa-vít dành cho Bát-xi-lai, vì ông đã có giúp đỡ lương thực cho Đa-vít trước đó, khi Đa-vít còn ở Ma-ha-na-im :

“Vậy cả dân sự  đều qua sông Giô-đanh, chính mình vua cũng đi. Đoạn, vua hôn và chúc phước cho Bát-xi-lai; rồi Bát-xi-lai trở về xứ mình.” (Sách II Sa-mu-ên, chương 19, câu 39)

Trong Tân Ước, Kinh Thánh cũng đề cập đến nhiều những nụ hôn mang nhiều ý nghĩa khác nhau, như nụ hôn biết ơn Chúa Giê-su, người đã làm ơn cho mình với lòng kính yêu vô hạn:

“Vả, có một người đàn bà xấu nết ở thành đó, nghe nói Đức Chúa Giê-su đang ngồi bàn tại nhà người Pha-ri-si, bèn đem đến một bình ngọc trắng đựng đầy dầu thơm. Người đứng đằng sau nơi chân Đức Chúa Giê-su, khóc, sa nước mắt trên chân Ngài, rồi lấy tóc mình mà chùi; lại hôn chân Ngài và xức dầu thơm cho.” (Sách Lu-ca, chương 7, câu 37, 38)

Hay nụ hôn mang ý nghĩa cao đẹp, thánh khiết của các con cái Chúa dành cho nhau:

“Anh em hãy lấy cái hôn thánh mà chào nhau. Hết thảy các Hội thánh của Đấng Christ chào anh em.” (Sách Rô-ma, chương 16, câu 16)

Kinh Thánh cũng ghi lại một nụ hôn không mang ý nghĩa như những nụ hôn ở trên, mà mang một ý nghĩa ngược lại. Đó là nụ hôn của Giu-đa Ích-ca-ri-ốt:

“Khi Ngài còn đương phán, một lũ đông kéo đến. Tên Giu-đa, một trong mười hai sứ đồ, đi trước hết, lại gần Đức Chúa Giê-su đặng hôn Ngài. Đức Chúa Giê-su hỏi rằng: Hỡi Giu-đa, ngươi lấy cái hôn để phản Con người (Chúa Giê-su-nv) sao?” (Sách Lu-ca, chương 22, câu 47, 48 – Xem thêm sách Ma-thi-ơ, chương 26, câu 48-50, và sách Mác, chương 14, câu 44, 45)

Thời xưa, các môn đệ thường chào thầy mình bằng một cái hôn để bày tỏ lòng kính trọng và yêu quí. Nhưng nụ hôn của Giu-đa thì không phải vậy.

Chúa Giê-su cho biết, nụ hôn của Giu-đa là nụ hôn phản bội.

Nụ hôn thường bày tỏ tình yêu dành cho nhau, sự cảm mến nhau, hoặc sự kính trọng dành cho những người mình đáng kính trọng.

Vậy mà nụ hôn của Giu-đa dành cho thầy của mình là Chúa Giê-su thì lại hoàn toàn ngược lại với những tình cảm đẹp đẽ đó. Hắn hôn Chúa không phải để bày tỏ lòng kính trong thầy, như chính hắn đã xưng: “Tức thì Giu-đa đến gần Đức Chúa Giê-su, mà rằng:Chào thầy! Rồi hôn Ngài.” (Sách Ma-thi-ơ, chương 26, câu 49). Nhưng hắn hôn thầy mình là để bán thầy mình chỉ vì lòng tham không đáy, muốn có được ba chục miếng bạc mà thôi: “Bấy giờ có một người trong mười hai sứ đồ, tên là Giu-đa Ích-ca-ri-ốt, đến tìm các thầy tế lễ cả, mà nói rằng: Các thầy bằng lòng trả cho tôi bao nhiêu đặng tôi sẽ nộp người cho? Họ bèn trả cho nó ba chục bạc.” (Sách Ma-thi-ơ, chương 26, câu 14, 15)

Ba chục bạc là giá để trả cho một tên nô lệ thời xưa (Sách Xuất Ê-díp-tô Ký, chương 21, câu 32).

Nụ hôn của Giu-đa là nụ hôn phản thầy. Nụ hôn của Giu-đa cũng là nụ hôn bán thầy nữa.

Thiết tưởng, trong suốt cả cõi lịch sử của con người, không có nụ hôn nào đê tiện và thấp hèn như nụ hôn của Giu-đa Ích-ca-ri-ốt, một kẻ bội phản.

Có nhiều con người phản bội lại ân nhân của mình trong cuộc sống mà chúng ta thường thấy. Cha ông ta đã từng có những câu nói: “Nuôi ong tay áo, nuôi cáo chuồng gà”, hay “dưỡng vật vật đền ơn, dưỡng nhơn nhơn báo oán”…để lên án những con người phản bội đó sao?

Nhưng phản bội bằng cách dùng nụ hôn là dấu hiệu bày tỏ tình yêu để thể hiện như Giu-đa thì quả là tận cùng của sự hèn hạ và đê tiện.

Bởi thế, mà từ xưa cho đến nay, một khi người ta nhắc đến tên Giu-đa là người ta không thể nào không nhớ đến nụ hôn bội phản của hắn dành cho thầy mình là Chúa Giê-su. Và mỗi khi nhắc đến như thế là người ta đều nhắc đến với một thái độ khinh bỉ với đầy đủ ý nghĩa của từ đó.

Không cần phải có nụ hôn phản bội của Giu-đa để kế hoạch cứu rỗi nhân loại ra khỏi tội lỗi của Đức Chúa Trời mới thực hiện được đâu. Chương trình cứu rỗi nhân loại của Ngài đã được hoạch định từ trước khi sáng thế ở trong cõi đời đời rồi, từ trước khi loài người phạm tội kia. Nhưng Giu-đa đã hành động đê tiện như thế là vì từ trong bản chất hắn đã là kẻ phản bội, hắn vốn là kẻ thuộc về Sa-tan rồi. Chúa Giê-su đã cho biết: “Vì Đức Chúa Giê-su biết từ ban đầu, ai là kẻ không tin, ai là kẻ sẽ phản Ngài.” (Sách Giăng, chương 6, câu 64)

Và Chúa Giê-su đã phán với Giu-đa như sau:

“Vì Con người (Chúa Giê-su – nv) đi, y như lời đã chép về Ngài; song khốn cho kẻ phản Con người! Thà nó chẳng sanh ra thì hơn.” (Sách Mác, chương 14, câu 21)

Đó là lời phán không còn gì chính xác hơn về bản chất của con người Giu-đa.

Lạy Chúa, xin giúp cho con sống một đời sống trung thành với Ngài là Đấng đã yêu thương con và sẵn sàng chết thay cho con trên thập tự giá để cứu chuộc con trở nên con cái của Ngài.

Xin Ngài ban cho con biết “giữ mình trong sự yêu mến Đức Chúa Trời, và trông đợi sự thương xót của Đức Chúa Giê-su Christ chúng ta cho được sự sống đời đời.” (Sách Giu-đe, câu 21) A men!

California, mùa Thương Khó 2021

Mục Sư Nguyễn – Đình – Liễu.

(*): Những câu Kinh Thánh trong bài viết là trích từ Kinh Thánh Bản Truyền Thống (BTT)
(1):https://www.tvvn.org/nhung-nu-hon-trong-ca-dao-mien-nam-suu-tam-2/

Tình Yêu Thương và Sự Vui Mừng

Văn: Châu Sa

Tình Yêu Thương và Sự Vui Mừng

Hôm nay ngày 12 của tháng, nhắc chúng ta tình yêu thương và sự vui mừng.  Đây là 2 mỹ đức đầu tiên của Trái Thánh Linh*.  Hai yếu tố của hạnh phúc.  Người mà không yêu và không được yêu cùng không vui thì thành công mấy cũng vô ích.

Để chút thì giờ suy nghĩ và điều chỉnh lại mối quan hệ gia đình, bè bạn, người chung quanh.  Chính minh phải chủ động bắt đầu lại tình thân thương với người khác.

Nhớ rằng người thân của mình cần thì giờ và sự thương yêu chăm sóc của mình hơn là tiền bạc mình cung cấp.  Châm ngôn 15:17 diễn tả: “Thà một món rau mà thương yêu nhau,
Còn hơn ăn bò mập béo với sự ganh ghét cặp theo”.

Chúa Giê-su nhắc nhở “kinh Chúa, yêu người” trong Phúc âm Mac chương 12.  Trong PÂ Giăng 13:35  Chúa phán cùng môn đồ:  Nếu các ngươi yêu nhau, thì ấy là tại điều đó mà thiên hạ sẽ nhận biết các ngươi là môn đồ ta.

* Galati 5:22

Châu Sa

Thương Yêu & Bình An

Văn: Châu Sa

Thương Yêu & Bình An

Hôm nay ngày 13 của tháng, chúng ta suy gẫm 2 mỹ đức Tình Thương Yêu (#1) và Bình an (#3) trong 9 mỹ đức của Trái Thánh Linh.

Cuộc sống có rất nhiều điều khiến cho chúng ta cảm thấy bất an, lo lắng.  

Chúng ta tìm những biện pháp để được an toàn.  Mua bảo hiểm là cách chúng ta thường làm, như bảo hiểm sức khỏe, bảo hiểm nhân thọ, bảo hiểm nhà, xe… Một số người đặc biệt như ca sĩ có thể mua bảo hiểm giọng hát của minh.

Tuy vậy, những tai nạn, tai vạ bất ngờ có thể xảy ra khiến chúng ta có thể chết hoặc tàn phế. 

Những người thích sống vội như chạy xe nhanh trên đường cao tốc sẽ thường bị hồi hộp, không thể sống an nhiên được. 

Thị trường chứng khoán tăng giảm làm nhiều người mất ăn, mất ngủ.  Không hiếm người đã tìm đến cái chết khi giá “stock” tuột quá nhanh.  

Ai biết nương tựa vào Chúa Giê-su, là Chúa của tình yêu và bình an thì sẽ được thỏa nguyện: thuyền hồn tìm được bến thả neo:

Dù biển đời xao động

Bao sóng gió đảo điên

Thuyền hồn neo bến Chúa

Được bình yên, bình yên.

Châu Sa

(Nếp Sống Mới)

Thuyền Hồn Neo Bến

Văn: Châu Sa

Thuyền Hồn Neo Bến

Được trưởng dưỡng trong môi trường tam giáo:  Khổng – Thích – Lão, khi tiến tới thì sử dụng đạo làm người của Khổng, khi thoái thì có tư tưởng thoát tục của Lão Trang, còn cuộc sống tâm linh về sau thì trao cho Đức Phật, tôi thấy đã quá đủ.  Tôi thích tư tưởng của các vị tiên nho xưa như Nguyễn Công Trứ khi học hành, thi cử, làm việc cũng như lúc hưởng nhàn.  Cha mẹ tôi thờ cúng ông bà theo quan niệm của đạo Lão như đại đa số dân Việt thường làm.  Lúc tôi còn nhỏ, vào các lễ lớn như rằm tháng giêng, tháng 7, tháng 10, mẹ tôi thường đưa anh em chúng tôi đi chùa, lạy Phật, ăn chay.  Cậu tôi làm hòa thượng tại một chùa ở Tân Vạn, Biên Hòa, là một nhà tu hành đạo cao, đức trọng.  Ông rất có uy tín với mọi người trong họ vì không những ông có kiến thức rộng rãi, mà còn có tâm hiền lành, từ bi như Đức Phật.  Mỗi lần gặp gỡ, nói chuyện với ông, tôi thấy lòng lâng lâng thoát tục.  Tuy có cảm tình đặc biệt, nhưng thú thật là tôi không hiểu được hết triết lý của đạo Phật.  Tư tưởng thoát tục, yếm thế của đạo Phật lại làm cho tôi nghĩ rằng đạo này chỉ thích hợp khi tôi ở vào tuổi mùa Đông cuộc đời.

 Tôi chỉ biết mơ hồ về đạo Chúa và cũng không thấy hứng thú tìm hiểu thêm, mặc dù thỉnh thoảng theo bạn bè đi dự các buổi lễ, tôi thấy không khí nhà thờ rất trang nghiêm, người theo đạo lúc nào cũng vui tươi, từ tốn.   Có điều không hay là vào thời Đệ nhất Cộng hòa (1955-1963), có sự đối xử phân biệt thiếu tế nhị ở các cấp chính quyền,  thiên vị thuận lợi cho người Công giáo hơn người các tôn giáo khác.  Rồi đến thời đệ nhị Cộng hòa (sau 1963 đến cuối tháng 4 năm 1975), nhiều chuyện rối ren xảy ra, phần nhiều là do những phần tử cực đoan, quá khích của Phật giáo và Công giáo.  Điều này làm tôi chán ngán, không muốn tìm hiểu thêm hai tôn giáo lớn này nữa.  Tôi có tìm đến sinh hoạt với hội Thông Thiên Học một thời gian, nhưng rồi phải chìm đắm trong việc học hành để ra trường, rồi bị trưng dụng vào quân đội.

Sau năm 1975, bị quay cuồng trong cơn lốc đời, song hành với những biến cố đau buồn của dân tộc, tôi suy gẫm nhiều về kiếp người, về cuộc đời.  Tôi như bị hụt hẫng, không còn niềm tin vào đâu nữa,  tôi thấy tương lai của mình và của con cái thật là đen tối.

Năm 1979, gia đình chúng tôi tị nạn tại Nam Dương, ban đầu tại đảo nhỏ Kuku, sau đó được chuyển tới đảo Galang.  Một điều đánh mạnh vào sự suy nghĩ của tôi trong thời gian này là tôi thấy các vị linh mục Công Giáo, các mục sư Tin Lành từ các xứ khác tới để giúp đỡ cho người tị nạn trên các đảo.  Các vị này quả có lòng bác ái như Chúa dạy cho họ.  Tiền bạc, thư từ chuyển qua tay các vị thì không sợ thất lạc.  Họ cũng truyền giáo, nhất là các mục sư Tin Lành, nhưng tôi thấy nghĩa cử của họ nói lên rất nhiều về đạo Chúa.   Tôi có đi nghe vài ông mục sư Tin Lành giảng đạo và thấy có cảm tình với những người theo đạo này qua đời sống của họ, nhưng lúc đó, tâm tư tôi rối bời nên không nghĩ tới việc tìm hiểu sâu hơn.

Tháng 7-1980, gia đình chúng tôi đến định cư tại Falls Church, tiểu bang Virginia.

Vào giữa năm 1982, trong khi đợi kết quả kỳ thi FLEX, một bằng hành nghề y khoa ở Hoa kỳ, tôi đi tìm việc làm tạm để phụ vợ tôi nuôi con.  Chạy ngang qua nhà thờ Fairfax Circle Baptist Church (ở thành phố Fairfax, Virginia), tôi nhìn thấy tấm bảng treo trên tường, đề “Vacation Bible School”.  À, đây là lớp dạy Thánh Kinh mùa hè.

 Tôi đã có dịp đọc vài Kinh Phật, tôi đã đọc Kinh Dịch, còn Kinh Thánh?  Ngoài một ít câu trưng dẫn Kinh Thánh tôi tìm thấy trong những sách Học Làm Người của ông Hoàng Xuân Việt, thú thật tôi rất dốt Kinh Thánh.  Văn chương Âu Mỹ chịu ảnh hưởng Kinh Thánh rất nhiều, cho nên tôi nghĩ rằng không đọc qua Kinh Thánh là một điều thiếu sót rất lớn cho tôi.  Tôi nghĩ mình nên lợi dụng thời gian rảnh rỗi này để tìm hiểu Kinh Thánh.

Tôi dừng xe, tiến tới gõ cửa văn phòng nhà thờ.  Mục sư Gennings tiếp tôi, sau khi nghe tôi muốn tham dự lớp học Thánh Kinh, ông cười và cho biết rằng lớp này chỉ dành cho trẻ em, và ông chưa bao giờ thấy có người lớn nào tới xin học.  Thấy tôi có lòng muốn học Kinh Thánh, ông hứa tìm người tình nguyện dạy cho tôi.  Vài ngày sau, ông gọi điện thoại cho tôi biết, có 2 người: ông Bill Pettus và bà Lorraine Perry chịu dạy Thánh Kinh cho tôi vào mỗi sáng Chúa Nhật từ 9:30 đến 10:30.  Tôi rủ vợ tôi cùng đi học.  Vợ tôi phản đối, hỏi tôi chắc hết chuyện làm rồi sao mà đi nhà thờ học Kinh Thánh.  Tôi nói “em cứ coi như mình đi học Anh ngữ vì mình cần trau dồi thêm tiếng Anh”.  Vợ tôi nghe có lý nên bằng lòng và dẫn theo hai đứa con nhỏ của chúng tôi:  Minh Triết 9 tuổi, Minh Ngọc 8 tuổi.  Các con tôi vào lớp thiếu nhi, còn vợ chồng tôi có lớp riêng do hai người Mỹ nói trên dạy.

Chúng tôi học sách Sáng Thế ký (Genesis), sách Êdíptô ký (Exodus), rồi sau đó qua Tân Ước, bằng sách Giăng (John).  Khi thấy chúng tôi có vẻ cảm động về đời sống và sự hy sinh của Chúa Giê-Su, hai người hướng dẫn này mời chúng tôi tin nhận Chúa để được sự cứu rỗi.  Chúng tôi cảm ơn, và cho họ biết rằng chúng tôi cần tìm hiểu thêm, cần thời gian để suy nghĩ xem có niềm tin thật sự không.  Có lúc tôi cũng bực mình vì thấy họ muốn thúc đẩy mình tin nhận Chúa sớm.  Về sau thì tôi hiểu và thông cảm được với họ vì lối suy nghĩ của người Tây phương là cấp tốc, muốn thấy làm là có kết quả ngay, không giống lối suy nghĩ của người Đông phương là có chiều sâu và cần thời gian để cân nhắc.

Khi sinh hoạt chung với nhà thờ Fairfax Circle Baptist Church này, chúng tôi nhận thấy những người tin kính Chúa là những người rất tốt, họ đối xử với chúng tôi như anh em.  Họ thương yêu, giúp đỡ nhau.  Con cái họ rất ngoan, không hút thuốc, không nhậu nhẹt, không xài cần sa ma túy.  Khi định cư tại Hoa Kỳ, chúng tôi thường lo lắng cho các con mình, sợ chúng tập nhiễm những cái xấu của nền văn minh vật chất bản xứ mà hư hỏng đi.  Nay, chúng tôi ước ao con mình có được niềm tin và có đời sống thánh thiện tốt đẹp như các thanh niên trong Hội Thánh này.  Tôi nhận thấy nhiều người Tin Lành rất siêng năng:  siêng học, siêng làm, siêng đạo.  Công thức Tam Siêng này giúp cho họ sống đắc thắng ngoài đời cũng như trong đạo.

Vài bạn bè gọi điện thoại khuyên tôi nên dạy con giữ truyền thống.  Đồng ý là có vài truyền thống cũ của người mình cần bảo tồn như kính trọng người lớn tuổi chẳng hạn, nhưng có những phong tục đã lỗi thời không thể ép con cái theo được.  Tam giáo tuy thâm thúy nhưng con trẻ sống tại Hoa Kỳ không thể hiểu được.  Thánh Kinh thì có nhiều bản dịch khác nhau, giá rẻ; nhà thờ thì nhan nhản, thành thị cũng như thôn quê đều có; trong trường trung học, đại học thì có “Bible Club”.  Con trẻ chừng lớn đi học xa vẫn có thể đi nhà thờ để học hỏi, để sinh hoạt cho đời sống tâm linh của chúng.  Sau một năm rưỡi tìm hiểu đạo cũng như lòng mình, chúng tôi vui lòng đầu phục, tiếp nhận Chúa làm Cứu Chúa của đời mình.  Thời gian tìm hiểu của chúng tôi có hơi lâu có lẽ vì tiếng Anh của mình còn yếu lúc đó.  Nếu có Hội Thánh Việt Nam hay có đồng hương đi trước chỉ dẫn thì chắc chúng tôi đã lãnh hội nhanh hơn.

Nghĩ lại lúc đầu chúng tôi muốn lợi dụng nhà thờ để học tiếng Anh, học Kinh Thánh, không dè tình yêu của Chúa thu hút và quyền uy Chúa bắt phục chúng tôi.  Thật cuộc đời có những khúc quanh bất ngờ.  Vậy thì Chúa chọn tôi hay tôi tìm chọn Chúa?

Hồi mới qua Mỹ, có người bạn đi trước báo động rằng qua xứ này, người Tin Lành họ dụ dữ lắm, có thể tới với họ lúc đầu để được giúp đỡ rồi sau đó tránh đi, đừng theo Tin Lành vì mình phải giữ đạo ông bà mình chứ.  Thấy anh ta thiên kiến, tôi cười và nói đùa:  “Tưởng theo tin dữ thì tôi sợ, chứ tin lành thì tôi cho dụ”.  Kết tội người đi giảng đạo là “dụ” thì không đúng vì họ không dụ dỗ người khác làm chuyện quấy, mà là giới thiệu người khác về một nguồn phước mà họ đang nếm và muốn người khác cũng được hưởng như họ.  Vậy nói rằng họ muốn chia sẻ niềm tin, chia sẻ ơn phước thì đúng hơn.  Khi người bán hàng quảng cáo một món hàng xấu mà chính cá nhân họ, hay gia đình họ không xài thì đó chính là “dụ”.  Tôi thấy người truyền giáo như người được ăn một tô phở ngon tại tiệm Z, muốn quảng cáo cho người khác biết mà vào tiệm đó ăn.  Tuy nhiên, nếu gặp người đang đói thì thật tốt vì người đói sẽ sẵn sàng bước vào ăn, nhưng nếu gặp người đang no, thì có cho thêm vàng anh ta cũng không thể ăn nổi.  (Viết đến đây, tôi mới hiểu được Lời Chúa trong Mathiơ 5:3 khi Chúa Giê-Su cho rằng những người nghèo khó, đói khát về tâm linh là người có phước vì họ chịu nghe, tìm hiểu và nhận tình yêu và sự cứu rỗi của Chúa dễ dàng).

Sau hơn 20 năm ở trong nhà Chúa, tôi đã nếm trải được nhiều sự dạy dỗ, uốn nắn từ Chúa, sự an ủi, khuyên nhủ của anh em trong Chúa của mình.  Tôi thấy tôi thay đổi nhiều.  Tôi thấy mình bớt khó chịu mà chịu khó hơn, bớt xét nét mà độ lượng hơn, bớt nóng nảy mà trầm tĩnh hơn, không coi trọng những sự tạm bợ mà biết yêu quí những gì trường tồn.  Vợ tôi, các con tôi, cùng dâu và rể đều có niềm tin vững chắc trong Chúa.  Những “chồi ô-liu” của thế hệ thứ ba đã được sinh ra, đang lớn lên trong nhà Chúa.

Tôi cứ suy nghĩ mãi một câu nói không biết xuất xứ từ đâu, mà nhiều nguồn tài liệu cho rằng đây là câu cách ngôn của Trung Hoa:  Khi có ai chia sẻ cho bạn những gì có giá trị và bạn nhận được lợi ích từ đó, bạn có bổn phận tinh thần chia sẻ lại cho người khác  (When someone shares something of value with you and you benefit from it, you have a moral obligation to share it with others.)

Tôi có 3 điều để chia sẻ lại với các bạn:

1/ Tôi thấy mình không uổng công theo Chúa, dù những thiệt thòi mà tôi gặp phải là 4 cái mất:  mất thì giờ, mất tiền bạc, mất một số bạn và mất … vui (vì cuối tuần, người ta đi chơi, còn mình thì làm bạn với Kinh Thánh, với nhà thờ).  Những cái mất nhỏ đó là cái giá phải trả để được phước hạnh lớn và sự thương xót vô bờ mà Chúa đã ban mình.  Những ơn phước diệu kỳ cũng như những phép lạ xảy ra đúng lúc trong đời làm tôi không khỏi ngạc nhiên.  Tôi chỉ biết cúi đầu tạ ơn Chúa.

2/ Điều làm tôi vui nhất là giúp cho các con tôi có niềm tin trong Chúa.  Trong mấy thập niên qua, tôi đã đầu tư vào thứ nọ thứ kia, nhưng tạo niềm tin yêu và hy vọng cho con cái, tôi cho là một đầu tư tốt nhất và tôi ưng ý nhất.  Một lần, con gái tôi có bày tỏ cảm tưởng là món quà vĩ đại mà cha mẹ cho nó chính là niềm tin của chính nó vào  Chúa Cứu Thế.  Lời này là một an ủi cho vợ chồng chúng tôi rất nhiều, vì nhớ lại lúc đầu chúng tôi đi tìm chân lý là vì hạnh phúc của con cái*.  Tôi tin rằng nơi nào, dù là gia đình, dòng họ, hay dân tộc có Chúa ngự trị thì nơi đó sẽ được phước.  Nhiều nơi trong Kinh Thánh  nhắc đến những phước hạnh của con dân trung tín trong Chúa truyền xuống nhiều thế hệ sau.  (Xuất Êdíptô 20:6  sẽ làm ơn đến ngàn đời cho những kẻ yêu mến ta và giữ các điều răn ta).

3/  Tôi được cứu rỗi vì Chúa ban cho sự cứu rỗi mà các tôn giáo khác không có.  Tất cả các tôn giáo đều giống nhau ở phần căn bản là dạy người ta làm lành lánh dữ, nhưng chỉ có đạo Chúa mới có sự cứu rỗi của linh hồn.  Nếu chỉ có cái nhìn “hình nhi hạ” thì đạo nào cũng tốt, nhưng đi sâu xa hơn thì mỗi tôn giáo mỗi khác.  Vì Chúa Giê-Su là Con Đức Chúa Trời nên có thể tha tội cho tôi, và ban cho tôi sự cứu rỗi để linh hồn của tôi được thanh thản mà trở về bên Chúa đời đời.

Bước đi trong Chúa chỉ vì lời hứa của Chúa là hành vi khôn ngoan hay dại dột?  Nếu vì lời hứa hão huyền mà mình tin theo thì thật là dại dột, nhưng nếu Chúa có thật và Ngài thành tín trong lời hứa mà không tin thì thật đáng tiếc.  Bám chặt lấy hứa ngôn của Chúa như tin cậy vào ánh sáng cuối đường hầm, như người sắp chết đuối bám chặt lấy cái phao, tôi thấy đường đi theo Chúa là một phiêu lưu kỳ thú.  Cuộc phiêu lưu này có đầy những ơn phước ngọt ngào, nhưng cũng không thiếu những hoạn nạn; có những phút bình tịnh như du thuyền trên dòng sông vào mùa thu, nhưng cũng không thiếu những cám dỗ, những bẫy dò lúc mình không tỉnh thức; có những lúc sung sướng tiên hưởng phước Thiên đàng, nhưng cũng không phải không có những hồi đau khổ.  Thử thách, hoạn nạn, cám dỗ là ba thứ mà ta luôn gặp để rèn luyện đức tin của chúng ta.  Tôi tin chắc rằng lúc mình gặp những khó khăn đó là lúc Chúa dõi mắt quan phòng nhiều nhất.

Trôi nổi trên biển đời lao xao bất ổn, cuồng phong bão tố có thể bất chợt xảy ra, niềm tin trong Chúa giúp tôi có được sự bình an mà thế gian không thể cho.  Có thể ví như thuyền hồn tôi tìm được bến để thả neo:  Bến Chúa.

Dù biển đời xao động

Bao sóng gió đảo điên

Thuyền hồn neo bến Chúa

Được bình yên, bình yên.

                                                Châu Sa

* Tâm lý con người chúng ta rất sợ sự thay đổi, nhất là thay đổi những gì thuộc truyền thống gia đình, cũng như tâm lý học nhận rằng “unlearning” là điều không phải dễ.  (Có thể dịch Unlearning là “tháo và thế”, tháo bỏ cái cũ, thay thế bằng cái gì mới).  Trong dòng họ, phải có người can đảm bước đi trước, để các thế hệ sau đi theo, nên tôi thấy rằng trong gia tộc, tôi là người phiêu lưu.

 Đất Bao Dung

             Sau cuộc bể dâu tháng 4/75, mọi trật tự xã hội bị đảo lộn, tôi trải qua nhiều thay đổi, nhiều xáo trộn trong cuộc sống.  Sau khi chồng phải đi học tập, tâm trạng tôi lúc đó như kiến bò trên miệng chảo nóng, lúc nào cũng thắc thỏm, lo âu, cảm thấy như tai họa có thể giáng xuống bất cứ khi nào.  Cuối năm 1977, chồng được cho về, và nhờ có nghề chuyên môn, anh được làm việc lại tại thành phố.  Tưởng là được yên vui, hạnh phúc, nhưng nào có được.  Người chế độ cũ dầu có làm gì cũng bị kềm chế, kỳ thị, nghi ngờ.  Anh thường than: “nghề nghiệp của anh phải được tự do, thoải mái thì mới phát huy được sáng kiến, chứ bị kiềm chế thì không thích làm chút nào hết”.  Có lúc, anh bắt chước Lệnh Hồ Xung trên đỉnh núi Hoa Sơn cảm khái than: “Trời cao đất rộng thế này mà ta không có chỗ dung thân.”

            Rồi, tháng 6-79 chúng tôi liều lĩnh ra đi tìm đất sống.  Sau 8 ngày đêm lênh đênh trên biển cả với bão tố, sóng gió, cướp bóc, đói khát, bị tàu hải quân Mã Lai kéo tới kéo lui, vợ chồng chúng tôi và 2 con cũng lên được đất liền (đảo Kuku, Nam Dương), và tháng 7-1980 được định cư tại Hoa Kỳ.

            Sau năm năm trời vất vả với nhiều việc làm khác nhau để nuôi sống gia đình và giúp chồng ăn học, tôi thấy vui là anh được trở lại nghề cũ và đời sống gia đình chúng tôi được thoải mái hơn.

            Chúng tôi lúc nào cũng tạ ơn Chúa cho gia đình chúng tôi lọt được vào vùng đất bao dung này, vùng đất cơ hội cho người có chí.  Vùng đất mà hiến pháp đặt trên nền tảng Kinh Thánh và phần lớn người cầm quyền là những người tin kính Chúa.  Nhờ truyền thống Cơ đốc đó mà họ có lòng bao dung rộng rãi, đón tiếp mọi giống dân tị nạn không phân biệt chủng tộc, để rồi những người kém may mắn này một khi tự lập được lại đóng góp vào sự thịnh vượng chung của quốc gia.  Tôi không phải không biết là vẫn có những sự kỳ thị, những bất công mà người tị nạn mình gặp phải, nhưng tôi thấy đó chỉ là những trường hợp lẻ tẻ, địa phương hay cá nhân, chứ chánh sách chính phủ thì rất bao dung, rất công bình.

            Tôi cảm ơn Chúa là con cái chúng tôi có phương tiện học hành, học tới đâu tùy ý thích của chúng.  Tôi cảm ơn Chúa là gia đình chúng tôi có cơ hội sống cho đời sống tâm linh của mình.  Sau khi gia đình tôi thấy được tình yêu Thiên Chúa và tiếp nhận Ngài làm chủ đời sống, tôi mừng mà thấy mình được giải phóng khỏi những sợ hãi, những hủ tục, mê tín, thành kiến cũ.  Gia đình tôi đang bước đi mạnh dạn trong đức tin.

            Tôi cảm thấy như mình đang được sống gấp hai, gấp ba.  Tôi không nói đến tuổi thọ, hay số năm được sống mà tôi muốn nói đến phẩm chất của đời sống.  Xứ này có mọi phương tiện để tôi phát triển khả năng của mình về mọi mặt tâm, trí, thể.  Có lúc tôi ước phải chi mình có 48 giờ một ngày để tôi học nhiều hơn, làm nhiều hơn và giúp đỡ người khác nhiều hơn.

            Cảm ơn Thiên Chúa đã có chương trình đặc biệt cho gia đình chúng tôi và Chúa luôn luôn thương xót, sửa dạy chúng tôi.

Minh Chung

 Bạn à,

          Cảm ơn bạn đã chịu khó đọc đến đây.  Có thể bạn thấy tẻ nhạt, không gì hấp dẫn để đọc thêm vì bạn đang thành công trên đời, và cảm thấy hạnh phúc, bạn không thấy cần tìm hiểu gì về đời sống tâm linh.  Có thể bạn thấy bực mình vì những lời viết có vẻ như truyền giáo này, mà bạn không có cảm tình tốt đẹp với những người đi truyền giáo không được tế nhị trong quá khứ.  Có thể bạn không tin một đấng nào có thể cứu được bạn vì bạn tự thấy mình quá hư hỏng.  Có thể bạn nghĩ rằng bạn phải tự cứu lấy mình, tự mình thắp đuốc cho mình, phải trả những nghiệp mà trong quá khứ mình đã gây ra…

          Bạn có thể không thấy hứng thú để đọc tiếp những trang sau, nhưng xin bạn đừng vội quăng bỏ quyển sách nhỏ này.  Bạn hãy để nó vào một góc nào đó trong tủ sách,  đợi đến một ngày…  khi mà bạn thấy đời sống mình quá trống rỗng, khi cảm thấy con thuyền tâm linh của mình không biết thả neo vào đâu, khi mà các bến cảng, các nơi quen thuộc đều từ chối không tiếp nhận, hoặc xua đuổi mình, thì có thể bạn nhớ lại quyển sách này để đọc lại, và biết đâu bạn tìm được một nơi thích hợp cho thuyền hồn bạn thả neo.

Châu Sa & Minh Chung

(Jacksonville, FLorida 2004)

Gã Trai Trẻ Câu Cá Rô

Văn: Châu Sa

Gã Trai Trẻ Câu Cá Rô

Sứ đồ Phao-lô thực hiện 3 vòng truyền giáo.

Vòng 1 vào năm 48-49.

Vòng 2 năm 51-53.

Vòng 3 năm 54-57.

Thời gian vòng 1, ông viết thư tín Galati,

Thời vòng 2, ông viết 2 thư tín, đó là Tesalonica I và Tesalonica II,

Thời vòng 3, ông viết 3 thư tín, đó là Corinto I, Corinto II và Rô-ma.

Mẹo nhớ:  Dùng câu “Gã Trai Trẻ Câu Cá Rô” để nhớ 6 thư tín trên:

Gã:  Galati

Trai Trẻ:  Tesa I và II

Câu Cá:  Corinto I và II

Rô:  Rô-ma

Các bạn có thể dùng câu khác để giúp trí nhớ.  Miễn sao nhớ là được.

7 thư tín còn lại ông Phao-lô viết lúc nào?

– Thời gian bị quản thúc tại La mã từ năm 60 – 67 AD.

Cuộc đời của Phao-lô là một tấm gương tận tụy, tận tâm, tận lực, tận hiến trong phục vu;  không nề chịu khó, chịu khổ, chịu cực, chịu đựng vì danh Chúa.

Ông cho biết: “Tôi làm được mọi sự nhờ Đấng ban thêm sức cho tôi.”  (Philip 4:13).

Mong mỗi người chúng ta theo gương Phao-lô biết nương cậy vào Đấng Toàn Năng.

Châu Sa.

March 22, 2021

ĐIỀM BÁO CHÚA TÁI LÂM

Thơ: Thanh Hữu

ĐIỀM BÁO CHÚA TÁI LÂM    

Hỡi Đa-ni-ên, hãy giữ kín những lời nầy và niêm phong cuộn sách nầy lại cho đến kỳ cuối cùng. Nhiều người sẽ đi đây đi đó và sự hiểu biết sẽ gia tăng.” (Đa-ni-ên 12:4). Tin Lành nầy về nước Đức Chúa Trời sẽ được giảng ra khắp đất, để làm chứng cho muôn dân. Bấy giờ sự cuối cùng sẽ đến. (Ma-thi-ơ 24:14

Ngày nay công nghệ không trung,
Vệ tinh trực tuyến, truyền thông mọi nhà.
Cho dù người ở thật xa,
Internet cũng đem ta đến gần.

Tin Lành cứu rỗi phước ân,
Giảng ra khắp đất, băng tần wifi.   [i]
Chỉ với điện thoại cầm tay,
Cứu rỗi đem đến bên tai của mình.

Khi ta hưởng dụng văn minh,
Ta cần nghĩ đến qui trình tái lâm.
Chúa đã báo trước ngàn năm,
Đến ngày sau rốt Chúa thăm toàn cầu. [ii]

Non cao, hải đảo, rừng sâu
Được nghe cứu rỗi nhiệm mầu Giê-xu.
Ngày nay đi lại viễn du,
Tham quan đô hội, biển sâu, đồng bằng,

Số người du lịch gia tăng,
Hằng năm, tỉ rưởi người hằng chu du.  [iii]
Tiên tri phán trước nghìn thu,
Thời kỳ Chúa đến người du lịch nhiều.  [iv]

Công nghệ tiến bộ bao nhiêu,
Học thức ứng nghiệm những điều đã ghi.  [v]
Thời nay ta chuẩn bị gì?
Đợi ngày Chúa đến rước đi về trời?

Giữ lòng trung tín ai ơi, [vi]
Dù cho thử thách, khắp nơi tràn đầy
Dù cho cám dỗ mỗi ngày,
Nhờ Chúa đắc thắng, cầm tay đi cùng.

Nhìn lên mây trắng không trung
Đợi ngày ta sẽ tương phùng “Chiên Con”  [vii]
Mừng vui thân thể linh hồn
Trong vương quốc thánh chúc tôn Danh Ngài.

THANH HỮU
Tháng 3 năm 2021

[i] Ma-thi-ơ 24:14)
[ii] Mác 13:10
[iii] http://baodulich.net.vn/Xu-huong-phat-trien-cua-du-lich-the-gioi-trong-giai-doan-toi-2402-20008.html
[iv]  Đa-ni-ên 12:4 a
[v] Đa-ni-ên 12:4 b
[vi] Khải-huyền 2:10
[vii] Khải-huyền 5:12,  Khải-huyền 7:17

LỜI CẦU NGUYỆN CHÚA NHƯ THẦY CẢ

KỂ CHUYỆN KINH THÁNH BẰNG THƠ

LỜI CẦU NGUYỆN CHÚA NHƯ THẦY CẢ
(Dựa theo Giăng 17)

Chúa Giê-su ngước mắt lên trời
Rồi Ngài cầu nguyện: Thưa Cha ơi!
Giờ đến, xin làm Con vinh hiển
Như Con làm vinh hiển Cha thôi…

Quyền phép Cha đã ban cho Con
Con ban sự sống mãi trường tồn
Cho những người mà Cha giao phó
Thân, hồn, linh giữ vẹn luôn luôn… (1)

Sự sống đời đời: nhìn biết Cha
Chúa Trời có một, thật đó mà
Cùng Giê-su Christ được sai đến
Làm Chiên Con chuộc tội người ta…

Con đã làm xong việc Cha giao
Tôn vinh Cha trên đất biết bao
Xin lấy vinh hiển Con từ trước
Làm vinh hiển Con từ trên cao…

Danh Cha được tỏ cho những người
Cha giao Con giữa thế gian thôi
Họ vốn thuộc về Cha từ trước
Nên giữ lời Cha trọn cuộc đời…

Họ biết mọi sự từ Cha cho
Nên họ không một chút đắn đo
Con truyền lời Cha, họ nhận lấy
Tin rằng Con đến để hộ phò…

Con đã vì họ mà nguyện cầu
Chẳng vì thế gian cầu nguyện đâu
Vì họ là kẻ Cha giao phó
Và Con nhân họ được tôn cao…

Con sẽ không còn ở thế gian
Nhưng họ còn ở cách rõ ràng
Cha Thánh ơi, xin gìn giữ họ
Hiệp một như ta ở Thiên đàng…

Trong danh Cha, họ được giữ gìn
Con giữ gìn họ trong đức tin
Trừ đứa con của sự hư mất
Không ai thất lạc như cầu xin…

Trước khi về cùng Cha trên trời
Con dạy lời Cha ở mọi nơi
Họ bị thế gian luôn ghen ghét
Họ thuộc trời cao, chẳng thuộc đời…

Con chẳng cầu Cha cất họ đi
Có Cha gìn giữ chẳng lo gì
Xin lấy lời Cha dạy dỗ họ
Khiến họ nên thánh đủ mọi khi…

Không chỉ cầu xin vì họ riêng
Vì kẻ nghe họ tin Con liền
Hầu cho ai nấy đều hiệp một
Để thế gian biết Con từ trên…

Họ được vinh hiển Con đã ban
Để được hiệp một trong vinh quang
Cha trong Con, như Con trong họ
Tình Cha yêu họ thật vô vàn…

Cha ôi, Con muốn Con nơi nào
Họ ở cùng Con như ước ao
Để họ nhìn Con trong vinh hiển
Vinh hiển Cha ban tuyệt biết bao!…

Thế gian chẳng biết Cha công bình
Nhưng Con thì biết Cha hiển vinh
Con tỏ danh Cha cho họ nữa
Tình Cha trong họ được lung linh.

Ngày 28/ 02/ 2021
Bình Tú Ngọc

(1): I Tê-sa-lô-ni-ca 5: 23