CHUYỆN VỀ…CHA CỦA CHA

Văn: MS Nguyễn Đình Liễu

Kinh Thánh: Châm ngôn 15: 3; Rô-ma 1: 16, 17; I Ti-mô-thê 1: 14 (*)

Các con yêu dấu của cha,

Nhân ngày Lễ Cha năm nay, cha muốn kể cho các con vài điều về cha của cha để các con thêm lên lòng yêu kính cha của cha và có thể học được nơi cha của cha điều gì đó cho cuộc đời của các con, nhất là niềm tin nơi Chúa của cha của cha.

Như các con đã biết, vào những năm 20 của thế kỷ trước, Đức Chúa Trời đã cho cha của cha có mặt trên trần gian nầy. Cha nhớ năm đó là năm 1924. Nếu cha của cha mà còn sống cho đến ngày hôm nay thì ông đã được gần một…thế kỷ tuổi (97 tuổi) rồi đó các con.

Cha của cha là một người hiền lành, thân thiện, dễ gần, và luôn nở nụ cười trên môi thật tươi với mọi người ông gặp.

Cha của cha đến với…người tình trăm năm của ông (tức bà nội của các con) là một cô thôn nữ dịu dàng, đằm thắm. Và…người tình trăm năm ấy đã sinh ra cho cha của cha được 6 người con (4 trai, 2 gái). Một người con gái (tức là chị của cha và là cô của các con) và một người con trai (tức là em của cha và là chú của các con) đã qua đời từ khá sớm về yên nghỉ mãi mãi trong “Miền Vinh Hiển” phước hạnh của Đức Chúa Trời. Do vậy, cha của cha còn lại 4 người  con. Đó là người con trai trưởng nam (tức là anh của cha, và là bác của mấy con.) Hiện đang làm Mục Sư chăm lo một bầy chiên của Chúa tại Quảng Nam. Người con trai thứ hai đó chính là cha của các con. Người con gái duy nhất còn lại của cha của cha, đó là em gái của cha (tức là cô của các con, hiện đang sinh sống và thờ phượng Chúa tại một Hội Thánh  ở thành phố cổ Hội An). Và người con trai út của cha của cha, đó là em trai của cha (tức là chú út của các con, hiện đang sinh sống và thờ phượng Chúa tại vùng đất Quảng Nam yêu dấu).

Sau khi bà nội của các con sinh ra người con trai sau cùng (không biết đã là…sau cùng chưa, nếu bà nội của các con còn sống) được mới có chừng 3 tháng tuổi là bà qua đời bởi chiến tranh, và được Chúa đem về yên nghỉ trong nước Thiên đàng vào mùa Hè của năm 1972.

Vậy là cha của cha phải sống trong cảnh…gà trống nuôi con, nhất là phải nuôi một đứa con còn…đỏ hỏn, thật đáng thương làm sao! Gà mái nuôi con còn khó, huống hồ gì là gà trống nuôi con. May mà lúc bấy giờ, có được sự cưu mang, giúp đỡ từ Hội Thánh  của Chúa, và cũng nhờ những thực phẩm rất tốt của Mỹ trợ giúp cho các Hội Thánh qua Hội Hoàn Cầu Khải Tượng, mà cha của cha đã có thể nuôi sống được người em trai út của cha (tức chú út của các con), khi còn quá bé bỏng như thế. Mỗi lần cha nhìn thấy chú út của mấy con là cha nhớ thương cha của cha rất nhiều, và thương chú út của mấy con lắm lắm.

Rồi chính cha của các con, lúc bà nội của mấy con qua đời, cha mới có 11 tuổi,  cũng được một Viện Cô Nhi có tên gọi là Sa-rép-ta của Hội Thánh  nhận về nuôi dưỡng, nên cha của cha cũng đỡ vất vả đi phần nào.

Không thể không nói lời cảm ơn đến Hội Thánh của Đức Chúa Trời tại địa phương BT lúc bấy giờ đã giúp đỡ về thực phẩm thật tốt để nuôi con trai út của cha của cha, và Cô Nhi Viện của Hội Thánh  đã nuôi chính cha của các con trong 3 năm trời. Được ăn đồ ngon, được học miễn phí và được hấp thụ một nền giáo dục Cơ-đốc theo lời Kinh Thánh dạy thật là tuyệt vời. Tất cả những điều tốt đẹp đó đã ảnh hưởng rất nhiều đến cuộc đời của cha các con cho đến ngày hôm nay.

Nhưng thật không ngờ, đến tháng 4 năm 1975, một biến cố xảy ra đã làm thay đổi tất cả. Từ một cuộc sống khá sung túc, đầy đủ của xã hội lúc bấy giờ, người dân đã phải bước vào một cuộc sống mới đầy khó khăn, cơm không đủ ăn, phải ăn bo-bo, phải độn sắn, độn khoai vào cơm cho thật nhiều để ăn cho no cái bụng. Mọi người dân đều phải vào Hợp Tác Xã hết. Tất cả ruộng đất đều trở thành của chung, không ai được quyền sở hữu đất đai riêng. Mỗi người dân làm ruộng, đến mùa thì gặt lúa đem về…nộp hết trong kho, rồi tùy theo số điểm đã làm được mà người ta chia lúa lại cho mà ăn, chứ người nông dân không được tự do sử dụng những sản phẩm mà mình đã đổ mồ hôi, sôi nước mắt làm ra theo ý của mình. Ngay cả quần áo, cũng không có đủ mà mặc nữa. Mỗi người dân mỗi năm chỉ được phân phối có mấy mét vải để may đồ mặc, nhưng phải xếp hàng để mua, chớ không phải có dễ dàng, mà toàn là vải “xoa-vi-ốt”, mặc nóng ơi là nóng.

Có thể nói không còn nỗi khổ nào hơn nỗi khổ lúc bấy giờ!

Cha còn nhớ, dù cuộc sống bộn bề khó khăn, nhưng  cha của cha vẫn trung tín nhóm cầu nguyện lễ bái (hát Thánh ca, học một đoạn Kinh Thánh ngắn và cầu nguyện) mỗi buổi tối trước khi đi ngủ. Có nhiều lần cha của cha cho cả gia đình hát bài Thánh Ca “Gánh lúa về”, với lời như sau:

“Ban mai hăng hái lên đường. Ta đem theo giống thiên thượng. Luôn ban trưa trải ban chiều, đến tối gieo cùng phương. Rồi trông cho lúa chín vàng. Vui đem lưỡi hái lên đàng. Gặt rồi bao bó lúa kìa, vui mừng gánh ngay về.  Cùng nhau ta hát vang, gặt lúa cánh đồng vàng. Lòng từ nay khoan khoái thay, bó lúa đem về đây. Cùng nhau ta hát vang, gặt lúa cánh đồng vàng. Hè cùng nhau gánh lúa vô. Đem nộp hết trong kho.

Ra đi nước mắt tuôn dài…”

Được biết bài hát nầy được sáng tác từ đâu thế kỷ thứ 19 trở về trước, nhưng sao mà tác giả có lời…tiên tri diễn tả rất đúng tình cảnh và tâm trạng đáng thương của người nông dân miền Nam trong giai đoạn Hợp Tác Xã lúc bấy giờ như thế không biết nữa? Mọi người vừa hát, vừa tủm tỉm cười trong nước mắt. Thật đúng là “Hè cùng nhau gánh lúa vô. Đem nộp hết trong kho. Và rồi…Ra đi nước mắt tuôn dài…”, vì làm cật lực mà cơm vẫn không đủ ăn, áo vẫn không đủ mặc. Nước mắt không tuôn dài mới là lạ!

Nhưng cha của cha phải nói là một con người được Chúa cho có nghị lực và ý chí không nhỏ chút nào.

Nhờ ơn Trời, cha của cha vẫn vượt qua mọi nỗi vất vả, khó khăn, tìm mọi cách mưu sinh để có cái ăn cái mặc mà nuôi con cái của mình. Cha của cha từng cùng bà con trong xóm đi làm thuê, đi mót khoai, mót sắn, từng đi buôn tranh lợp nhà (lên tận trên vùng núi mua tranh, rồi gánh xuống tận miền biển, cách nhau chừng 15, 20 cây số bán kiếm tiền lời), để có tiền mua gạo, mua mắm mà sống qua ngày và nuôi con cái trong thời điểm cực kỳ khó khăn của cái thời điểm sau biến cố 1975.

Người ta nói “Ông Trời có con mắt” thật đúng. Lời Kinh Thánh dạy: “Con mắt Đức Giê-hô-va ở khắp mọi nơi. Xem xét kẻ gian ác và người lương thiện.” (Sách Châm ngôn, chương 15, câu 3). Đức Chúa Trời thấy nỗi cực khổ, vất vả của cha của cha, nên không cho cha của cha đau ốm gì cả, nhờ đó, ông có sức khỏe để làm lụng, nuôi con cái ăn học với người ta. Không một đứa con nào của cha của cha bị thất học cả.

Đó là nhờ ơn Trời trên cao ban cho  cha của cha, và cũng nhờ tình yêu thương con cái đã thúc đẩy cha của cha chịu thương chịu khó để làm việc kiếm tiền nuôi con cái ăn học, kiếm một ít chữ nghĩa với người ta.

Tạ ơn Đức Chúa Trời của cha của cha và cảm ơn cha của cha thật là nhiều về tấm lòng thương yêu con cái của cha của cha!

Một đặc điểm của cha của cha là sinh thời, cha của cha có tính hay thương người, nhất là những người nghèo khó, tật nguyền, góa bụa trong làng xóm, thôn xã; mặc dù cha của cha cũng là một  người có cuộc sống khó khăn như người ta chứ chẳng phải khá  giả gì.

Khi thấy người nghèo khổ, cha của cha thường hay chia sẻ cho họ miếng cơm, manh áo trong khả năng của ông. Ngày Tết đến, gói được ít đòn bánh tét, mấy cái bánh ú, cha của cha thường  hay dành một ít cho những người khó khăn quanh xóm  để họ có cái cùng…ăn Tết với người ta.

Về phương diện niềm tin, cha của cha là một người có một đức tin sắc son nơi Chúa. Dù cha của cha phải trải qua nhiều thử thách trong đức tin, như bò chết, heo chết, bà nội của các con chết, nhà cháy, con còn bé bỏng…nhưng cha của cha vẫn một lòng tín trung thờ phượng Đức Chúa Trời. Cha của cha cứ vui vẻ sống, cứ hớn hở cười, cứ siêng năng làm lụng nuôi con. Và cứ sốt sắng đi chứng đạo,  cứ sốt sắng phục vụ Chúa trong Hội Thánh  của Ngài. Không Chúa nhật nào mà cha của cha vắng mặt trong Nhà thờ, nên các con của cha của cha cũng theo gương đó mà hiện diện đầy đủ trong Nhà thờ vào ngày Chúa nhật vậy.

Cha của cha kính yêu Chúa thật nhiều, yêu thương Hội Thánh  của Chúa vô kể, và tôn trọng người hầu việc Chúa một cách đáng nể. Ai đó có thể đụng đến cha của cha, có thể xem thường cha của cha, có thể khinh bỉ cha của cha; cha của cha vẫn có thể chịu đựng được, chấp nhận được; nhưng cha của cha không chấp nhận ai đó đụng đến Chúa của cha của cha, đụng đến Hội Thánh  của Chúa, và đụng đến người hầu việc Đức Chúa Trời của cha của cha. Bằng mọi giá, cha của cha luôn đứng với Chúa, luôn binh vực Hội Thánh của Chúa và luôn ủng hộ, nâng đỡ Mục Sư là người hầu việc Đức Chúa Trời.

Cha nhớ có ai đó đã nói một câu nói thật hay: “Tôi bị hạ thấp chừng nào cũng được; nhưng Chúa phải được tôn cao qua sự hạ thấp của tôi.” Câu nói đó, cha thấy rất đúng với tình yêu của cha của cha dành cho Chúa, cho Hội Thánh của Ngài, cũng như  cho Mục Sư là người hầu việc Đức Chúa Trời.

Vào năm 2001, đẹp ý Đức Chúa Trời, cha của cha được Ngài đem về yên nghỉ trong nước Thiên đàng vinh hiển, phước hạnh, để lại một nỗi buồn sâu xa trong lòng của các con cha của cha cũng như các cháu của cha của cha.

Chúa ban cho  cha của cha hưởng thọ được 78 tuổi trên trần gian nầy. Tạ ơn Chúa về số năm mạng sống mà Ngài đã dành cho cha của cha trên đất nầy.

Khi cha của cha về nước Chúa, cha của cha không để lại gia tài vật chất nào đáng giá cho con cái cả, chỉ có một ngôi nhà tranh nho nhỏ và một mảnh vườn cũng nhỏ mà thôi. Nhưng cha của cha lại để lại một gia tài thuộc linh quý báu cho con cái. Đó chính là di sản đức tin nơi Đức Chúa Trời của cha của cha vậy.

Cha nghĩ rằng, di sản đó quý giá hơn tiền bạc, đất đai, ruộng vườn  rất nhiều lần. Di sản đó không có chi so sánh được.

Cha của các con còn giữ được đức tin nơi Chúa như ngày hôm nay, và còn được Chúa dùng để hầu việc Ngài như ngày hôm nay, một phần lớn là cũng nhờ vào di sản đức tin quý báu ấy của cha của cha để lại vậy!

Thật đúng như lời Kinh Thánh đã dạy: “Thật vậy tôi không hổ thẹn về Tin Lành đâu, vì là quyền phép của Đức Chúa Trời để cứu mọi kẻ tin, trước là người Giu-đa, sau là người Gờ-réc; vì trong Tin Lành nầy có bày tỏ sự công bình của Đức Chúa Trời, bởi đức tin mà được, lại dẫn đến đức tin nữa, như có chép rằng: Người công bình sẽ sống bởi đức tin.” (Sách Rô-ma, chương 1, câu 16, 17)

Vâng, đúng là “đức tin lại dẫn đến đức tin”!

Biết ơn cha của cha thật nhiều, vì cha của cha đã để lại một di sản quý hơn vàng cho con, cho cháu.

Cha của cha đã về nước Chúa đến nay đã  20 năm hơn rồi.

Ngày cha của cha về nước Chúa, cha các con đang đi học xa, không thể về được để tiễn đưa cha của cha về trong “Miền Vinh Hiển”, nên cha buồn thật nhiều, và nhớ cha của cha biết bao nhiêu. Nhưng cha vui vì biết chắc cha của cha được về ở bên Chúa yêu thương của mình.

Cảm tạ Chúa đã thương xót cứu cha của cha, đem cha của cha đến chỗ tin nhận Chúa Giê-su Christ làm Cứu Chúa của mình, và  được địa vị làm con cái Ngài. Qua cha của cha, các con của cha của cha cũng được biết Chúa Giê-su, và tin nhận Ngài, làm con cái của Ngài  như cha của cha vậy. Rồi đến lượt các con của cha ngày hôm nay, Chúa cũng ban đức tin cho các con để được cứu trong Đức Chúa Giê-su Christ.

Có thể mượn lời của sứ đồ Phao-lô mà nói rằng: “Ân điển của Chúa chúng ta đã dư dật trong gia đình ta, với đức tin cùng sự thương yêu trong Đức Chúa Giê-su Christ.” (Sách I Ti-mô-thê, chương 1, câu 14)

Cảm tạ Chúa về ân điển tốt lành của Ngài đã dành cho cha của cha, tức ông nội của các con, và dành cho gia đình của chúng ta!..

Nhân ngày Lễ Cha, cha nói với các con đôi điều về cha của cha để các con được biết và thêm lên lòng thương nhớ và yêu kính cha của cha, một con người mà cha các con rất yêu kính trong cuộc đời của cha.

Mong ước các con của cha cũng có lòng tin kính Chúa và yêu thương người khác như cha của cha ngày xưa.

Nguyện xin Chúa ban phước dư dật cho các con của cha, cũng như Ngài đã ban phước cho  các con của cha của cha vậy.

Kính chúc tất cả những người làm cha gần xa một ngày Lễ Cha thật nhiều niềm vui và hạnh phúc bên gia đình và người thân yêu của mình!

Mừng Ngày Lễ Cha 2021.

Mục Sư Nguyễn – Đình – Liễu.

 

(*): Những câu Kinh Thánh trong bài viết là trích từ Kinh Thánh Bản Truyền Thống (BTT)

 

Theo Bước Chân Ai ?

Văn: Châu Sa

        Năm năm trước đây, khi dự một Hội Đồng tại Houston, Texas, tôi tình cờ gặp một người trông tựa như một người quen tôi gặp trong trại tù cải tạo hồi năm 1977.  Tôi bước tới, chào anh, xin lỗi, hỏi: “Anh có phải tên Thanh, tôi gặp tại Đồng Bang, lúc đó anh giúp vui cho bạn tù buổi tối bằng hành trình của các nhân vật của Kim Dung không?  Anh xác nhận và mừng rỡ gặp lại tôi.  Tôi hỏi tiếp: “Và anh có biệt danh là người lắm chuyện?”  Anh cười ha hả, đáp “chính xác, chính xác”. 

        Duyên do như thế này:  Đời sống trong trại tù cải tạo rất buồn nản, có người còn có ý định quyên sinh.  “Láng” tôi ở may có anh Thanh biết nhiều chuyện, nên mỗi tối anh hay kể chuyện võ hiệp của Kim Dung.  Anh đặt tựa như: “Theo bước chân Lệnh Hồ Xung”, “Theo bước chân Trương Vô Kỵ”, “Theo bước chân Vi Tiểu Bảo”… Anh có trí nhớ tốt, có cách kể chuyện hấp dẫn, duyên dáng, đưa chúng tôi vào vùng trời ảo mộng hằng đêm.  Chi tiết nào anh không nhớ thì anh chế cho xuôi câu chuyện.  Ai cũng biết nhưng ai cũng cười xòa thông cảm.  Anh cán bộ trại tò mò, tới gần nghe ngóng chúng tôi làm gì mà quây quần nghe anh Thanh kể chuyện.  Nghe mấy lần, thấy vô hại vì không dính gì đến chính trị, không gì là phản động, nên anh để cho chúng tôi có những giây phút thoải mái.  Có lần, anh Thanh chế một chi tiết rất buồn cười, mọi người lăn ra cười, ngay cả anh cán bộ cũng cười sằng sặc.  Tiếng cười của anh rất đặc biệt, mọi người quay lại nhìn.  Anh cười và nói chữa thẹn:  “Gớm, anh Thanh nầy thật là lắm chuyện”.  Từ đó, anh Thanh có biệt danh là “người lắm chuyện”.  Qua giờ kể chuyện, tình cảm của chúng tôi và anh cán bộ được cải thiện rất nhiều.  Anh hiểu chúng tôi hơn và chúng tôi mến anh hơn. 

        Trở về với hiện tại, tôi hỏi anh Thanh: “Lóng rày, anh còn theo bước chân của nhân vật Kim Dung không?”

        Anh bước tới, nói nhỏ vào tai tôi:  “Từ nhiều năm nay, tôi theo bước chân của Phao-lô”.  Tôi thốt: “A, điều này hay nhe.  Tôi muốn nghe chuyện này”.  Anh nói có việc phải đi, rồi ghi số phôn cho tôi.

        Chừng vài tuần sau đó, tôi gọi thăm anh và nói ý tôi muốn biết lý do bây giờ anh theo bước Phao-lô.

        Anh thong thả kể:

        – Tôi thích đọc sách, nhất là sách truyện.  Hồi nhỏ, tôi mê đọc Tây-du ký, tác phẩm của Thi Nại Am, tôi theo bước chân của Đường tăng Tam Tạng.  Kế đó, từ năm tôi học Đệ nhị cấp, Trung học, có phong trào đọc truyện võ hiệp của Kim Dung mỗi ngày trên báo.  Thời đó, chuyện Kim Dung được nhiều triệu người Á châu mê thích.  Những nhân vật chính trong truyện như Lệnh Hồ Xung, Trương Vô Kỵ, Vi Tiểu Bảo được tôi và nhóm bạn bàn thảo, phân tích hằng ngày.  Do đó, tôi có những câu chuyện kể cho các anh và từ đó có biệt danh là “Người Lắm Chuyện”. 

        Sau khi ra khỏi trại tù cải tạo, gia đình tôi vượt biển, tới Hoa Kỳ năm 1987.  Chị vợ tôi là tín hữu Tin Lành, giới thiệu cho gia đình chúng tôi tình yêu và chương trình cứu rỗi qua Chúa Giê-su.  Sau vài tháng tìm hiểu, chúng tôi tin nhận Chúa Giê-su là Cứu Chúa của đời minh.  Sau một thời gian học Kinh Thánh, tôi ngưỡng mộ cuộc đời của ông Phao-lô và muốn theo bước chân  ông.

 Phao-lô là một con người vĩ đại,  trước là môn đồ của Ga-ma-li-ên, một trong những Ra-bi nổi tiếng vào lúc ấy (Công Vụ 22:3).  

Là một người Do-thái cuồng nhiệt, Phao-lô nổi bật trong nhóm Pha-ri-si.

Vì ngu muội, Phao-lô đã sử dụng thế lực của mình để bắt bớ môn đồ của Chúa Giê-su. Tuy nhiên khi tiến hành khủng bố hội thánh, ông đã có cơ hội gặp Chúa Giê-su trên đường tới Đa-mách.  Trước tiên, ông đã nghe tiếng Chúa Giê-su và mắt ông bị mù (Công vụ 9:1-9).  Khi biết rõ Chúa Giê-su đến từ trời, ông được sáng mắt và trở nên một con người mới.  Ông trở thành người tin đạo nhiệt tình và Chúa đã đại dụng ông như một sứ đồ.  Tôi nghiền ngẫm đời sống của ông và muốn theo bước chân ông. 

–  Tôi theo bước Phao-lô vì đó là người thật, việc thật.  Những người tôi theo bước trước kia chỉ là những nhân vật hư cấu, còn Phao-lô là nhân vật có thật trong lịch sử.

–  Tôi theo bước ông Phao-lô vì ông theo bước Chúa Giê-su, như trong thư Cô-rinh-tô thứ nhất ghi:  Hãy bắt chước tôi, cũng như chính mình tôi bắt chước Đấng Christ vậy” (11:1).

–  Bài học quan trọng mà tôi rút ra khi theo bước Phao-lô là:  “Tội nhân nào cũng có tương lai, thánh nhân nào cũng có quá khứ.  Phao-lô rõ ràng là tội nhân hàng đầu khi chống báng Chúa, nhưng khi Chúa dùng đã cho ông một tương lai xán lạn.  Điều này mang hi vọng cho mọi người là không có tội nào quá lớn mà Chúa không thể tha thứ, nếu biết ăn năn, xưng tội.  Người đời sau xem ông như Thánh dù ông có một quá khứ quá đen tối khi ông bắt bớ, hành hạ tín đồ của Chúa Giê-su. Chúng ta theo bước chân của Phao-lô thì biết rằng từ tội nhân, chúng ta có thể thành thánh nhân.

–  Bài học thứ đến là ân-điển hay ân-sủng.  Phao-lô đã phạm tội quá lớn, nếu không do ân điển của Chúa thì ông không thể sống để ăn năn và được phục hồi.  Một ân điển nữa là ông được Chúa đại dụng trong công trình thuộc linh của Chúa.  Qua đó, ông hiểu được thế nào là thời đại ân điển do Đức Chúa Trời hoạch định, Chúa Giê-su thực thi và Thánh Linh ấn chứng để cứu rỗi thế nhân.  Trong các tác phẩm của Phao-lô, ông nhắc nhiều đến ân điển, ông nhiều lần nhấn mạnh là chúng ta được cứu bởi ân điển của Chúa và đức tin của chúng ta chứ không phải bởi việc làm.

–  Phao-lô đã đi 3 vòng truyền giáo với hơn 10 ngàn dặm đi chân trên hơn 10 năm, thiết lập nhiều hội thánh.

–  Ông để lại di sản tâm linh lớn lao: 13 thư tín gửi cho tín nhân thời đó, nhưng giá trị tinh thần rất lớn vì những lời khuyên dạy của ông hữu ích lâu đời.

–  Ông Phao-lô có 2 người học trò ruột là Ti-mô-thê và Tít là 2 vị quản nhiệm Hội Thánh.  Trong các thư ông gửi cho 2 người này mà ông xem như con, chúng ta thấy một thứ tình cảm sâu đậm, tha thiết của một cha nhân từ.  Những lời dạy dỗ, nhắn nhủ này khiến chúng ta liên tưởng tới tình yêu Đức Chúa Trời đối với con cái bé mọn của Ngài.

–  Bài luận về tình yêu thương của ông trong chương 13 thư Cô-rinh-tô thứ nhất là một tuyệt tác.  Những đoạn luận về ân tứ Thánh linh rất linh hoạt.  Những bông trái Thánh linh như tình thương yêu, sự vui mừng, bình an, nhẫn nhịn, nhân từ, hiền lành, trung tín, khiêm nhu, tiết độ làm ấm lòng người nghe, người đọc.

–  Tôi học được tinh thần thỏa lòng trong mọi cảnh ngộ của ông:  “Tôi biết chịu nghèo hèn, cũng biết được dư dật. Trong mọi sự và mọi nơi, tôi đã tập cả, dầu no hay đói, dầu dư hay thiếu cũng được” (Thư  Phi-líp 4:12).

–  Tôi học tinh thần chịu đựng, chịu khó, chịu khổ, chịu cực, chịu đau đớn.  Càng hoạn nạn, ông càng kiên trì, nhẫn nhịn; càng bị bắt bớ, đức tin ông càng tăng.  Trong khi bị bắt vô tù, ông viết thư an ủi, khích lệ người tín hữu ngoài…tù.  Bốn bức thư gửi cho Phi-lê-môn, Hội thánh Phi-lip, HT Cô-lô-se, HT Ê-phê-sô là những “ngục trung thư” quí giá, nhất là thư gửi HT Phi-líp, tràn đầy sự vui mừng, cảm tạ, ngợi khen Đức Chúa Trời.  Người trưởng thành trong đức tin giống như bông trái chín tới, càng bị bầm dập, vắt ép càng tiết ra vị ngọt, càng tỏa hương thơm.

Từ khi biết Đấng Christ, cuộc đời ông Phao-lô thay đổi 180 độ.  Ông coi mọi sự lời thể chất là sự lỗ tâm linh.  Ông sẵn sàng sống cũng như sẵn sàng chết, như qua thư Phi-lip 1:21 “Vì Đấng Christ là sự sống của tôi, và sự chết là điều ích lợi cho tôi vậy.”  Chúng ta có thể nói rằng nếu không có Phao-lô thì phần Tân Ước của Kinh Thánh không phong phú, sống động như chúng ta có hiện nay.  Nhờ ông, giáo lý Tin Lành được giãi bày một cách rõ ràng, khúc chiết, súc tích, đầy đủ.  Ông xứng danh là một Đại Sứ đồ mà nhiều người xưng tụng.

Châu Sa

KHÔNG TỰ DO NÓI DỐI

Thơ: Thanh Hữu

Vì bởi lời nói mà ngươi sẽ được xưng là công bình, cũng bởi lời nói mà ngươi sẽ bị phạt. (Ma-thi-ơ 12:37)

Anh vẫn biết, tự do là đáng quí,
Là phước lành, là quà tặng Chúa ban.
Là đặc ân, là báu vật vạn ngàn,
Là sở hữu, khi đi vào thế giới.

Trong tự do, có trách nhiệm liên đới.
Chọn lựa gì, nhận hậu quả thích nghi.
Như A-đam, tự do thuở xuân thì   [1]
Chọn trái cấm, hệ quả là hư mất.  [2]

Thời đại nay, giữa trăm ngàn giả thật,
Giữa môi trường “internet” bao la.
Bao phát ngôn, bao gian dối nói ra,  [3]
Được đồng hóa, bằng “tự do ngôn luận”.

Nhưng Lời Chúa khuyên ta nên cẩn thận,
Trong ngôn từ, trong lời nói phát ra.
Đừng vô tình như đóm lửa cháy nhà,  [4]
Làm thiêu rụi bao công trình xây cất.

Lời nói dối, lời phao vu sai trật,
Làm hại người, hại xã hội nhân sinh.
Thuyết âm mưu, dối trá, tạo bất bình,  [5]
Tạo náo loạn, tạo ra nhiều chết chóc.

Lời Chúa dạy, khuyên ta nên nói thật,  [6]
Để giúp người, để gây dựng niềm tin,
Để nói ra ơn cứu rỗi Tin Lành,
Để đạt đến gía trị còn vĩnh cữu.

Hãy nói thật, để nhận ơn Thiên hựu,
Tránh dối lời, bị phạt chốn trầm luân.  [7]
Xin Thánh Linh, làm mới lại suối nguồn,
Của lời nói, để tràn tuôn phước hạnh.

“Ngôi Lời” sáng tạo trời xanh,  [8]
Sáng tạo vũ trụ tốt lành biết bao.
Lời con, Linh Chúa tuôn trào  [9]
Đem nguồn hy vọng, lớn lao cho người.

THANH HỮU
Tháng 6 năm 2021

[1] Sáng-thế Ký 2:16
[2] Sáng-thế Ký 3:3-10
[3] https://bungbinh.vn/tin-xac-thuc/tin-gia-tren-facebook-24f87a8.htm
[4] Gia cơ 3: 5
[5] Châm-ngôn 14:25
[6] Ê-phê-sô 4:25
[7] Ma-thi-ơ 12:37
[8] Giăng 1: 3-4
[9] 1 Tê-sa-lô-ni-ca 1:5

CHUYỆN VỀ…TÌNH CHA QUA NHỮNG VẦN THƠ ĐẦY YÊU THƯƠNG

Văn: MS Nguyễn Đình Liễu

Ngày Lễ Cha đang về với mỗi một người trong chúng ta.

Chúa nhật thứ ba của tháng Sáu hằng năm là một Chúa nhật được  nhiều người mong đợi, nhất là những người con, vì đó là một dịp tiện để họ có thể bày tỏ lòng biết ơn người cha kính yêu của mình.

Nhân ngày Lễ Cha năm nay, xin mời quý độc giả cùng thưởng thức những vần thơ đầy yêu thương nói về tình cha như là một món quà tinh thần để kính tặng đến những người cha kính yêu ở khắp mọi nơi.

Tình cha con là một mối quan hệ rất mật thiết. Không có người cha nào là không sống vì con và hy sinh cho con. Ngược lại, cũng không có người con nào là không yêu thương, kính trọng cha mẹ của mình, ngoại trừ một vài trường hợp hãn hữu mà thôi.

Xin mời quý độc giả cùng thưởng thức  những vần thơ viết về tình cha của hai Nhà thơ Cơ-đốc rất quen thuộc với độc giả yêu văn thơ khắp nơi, nhất là với độc giả yêu văn thơ Cơ-đốc.

Trước hết, xin mời quý độc giả đến với thơ viết về cha của Nhà thơ Thanh Hữu.

Thanh Hữu, như chúng ta đã biết là một trong những nhà thơ nổi tiếng trong làng văn thơ Cơ-đốc. Ông đã sáng tác khá nhiều những  bài thơ với chủ đề về cha. Những bài thơ về cha của Thanh Hữu gợi lên cho chúng ta  nhiều điều rất đáng trân trọng về người cha.

Lo lắng cho con mình sinh ra và lớn lên ở một đất nước cách xa quê hương Việt Nam đến nửa vòng trái đất, sẽ…mất đi gốc gác Việt Nam, nên người cha đã luôn luôn mong ước con mình bằng mọi cách phải giữ gìn được cái cốt cách, cái tinh túy của người Việt Nam trong tâm hồn. Dù như thế nào đi nữa, con cũng phải “bơi về dòng suối ngọt quê hương” là quê Mẹ Việt Nam:

Vừa sinh ra con là công dân Mỹ 
Dù da vàng mũi tẹt ở trên thân
Dòng máu Việt trong con vẫn bền bỉ
Được lưu truyền con đừng để lai căn.

Xã hội Mỹ kéo con về với họ
Trong môi trường sống động và giàu sang
Cha mẹ sợ mất con trong văn hóa
Đem con về đặt tên họ Việt nam… 

Là cơ phận con quay cuồng theo máy 
Trong hướng nhìn theo triết thuyết tây phương
Cha mẹ muốn tâm hồn con nhìn thấy
Kià đông phương trời vẫn sáng lạ thường 

Con như cá thả trên dòng nước chảy 
Sóng cuồng lưu lôi kéo con xa nguồn
Cha réo gọi con ơi về nguyên thủy
Hãy bơi về dòng suối ngọt quê hương.
 

                                     (Nói với con)

Không một người cha tin kính Chúa nào mà không mong ước, khát khao con cái mình khi lớn lên sẽ có một đời sống  yêu mến Chúa và biết hầu việc Ngài. Con có thể làm ăn thành đạt, có cuộc sống thịnh vượng, giàu sang, công thành danh toại; nhưng với cha, mong đợi lớn nhất dành cho con, đó chính là một đời sống  thuộc linh gần gũi, mật thiết với Chúa yêu thương, sống đắc thắng cho Chúa:

Cha khẩn nguyện, với cả lòng mong đợi,
Con là người tin kính Chúa yêu thương.
Biết cậy trông vào Linh Thánh dẫn đường,
Biết vâng phục, bước đi theo Lời Chúa.

Cha vẫn biết, bao khó khăn giăng bủa,
Bao thử rèn, bao cám dỗ chờ con.
Hãy khiêm nhu, tin cậy Chúa hết lòng,
Ngài sẽ giúp ban niềm vui đắc thắng.

Thời gian sống như là một quà tặng,
Chúa sẵn dành trao đặt vào tay con.
Hãy khôn ngoan xử dụng cách hết lòng,
Theo ý Chúa, để đời con mãn nguyện.

Giá trị thật, không phải là phương tiện
Nhưng Tin Mừng, là sự cứu rỗi hồn linh
Ước ao con đi trọn bước linh trình
Sống đắc thắng trong tầm nhìn Thiên Chúa.

                                            (Lòng cha)

Vẫn một dòng chảy về Thiên quốc vĩnh hằng trong tâm thức mà cha hằng mong đợi cho gia đình mình, nên khi con hỏi về quê hương, thì cha đã nhắc nhở con nhớ về quê hương tạm trên đất để đừng quên dòng giống Việt tộc của mình; nhưng hãy tập trung đời mình về quê hương dấu yêu ở trên trời:

Cha ơi,
Sinh ở đây, con là công dân Mỹ,
Mẹ bây giờ có quốc tịch “Cờ hoa”
Anh Hai con thường trú Canada
Chị Ba đã là công dân Pháp quốc.

Các chú bác định cư tại Nhật, Đức
Các cô dì lưu lạc đến Bắc Âu
Cậu mợ con đang sống ở Úc châu
Và như thế quê hương con đâu nhỉ?…

Cơn gió thoảng hoa rơi về gốc mẹ
Trái chín ngon sẽ rụng xuống cội nguồn
Những con ngoan sẽ trở lại quê hương
Để bồi đắp một non sông thương nhớ

Quê trên đất trong cuộc đời tạm bợ
Quê hương Trời vĩnh cữu cõi lai sinh
Cầu Ơn Trên hướng dẫn cuộc hành trình
Con đi trọn về quê Cha Muôn Thuở.
                               (Quê cha)

Đó là vài nét chấm phá khá đẹp về tình cha trong thơ Thanh Hữu.

Còn với Nữ Thi Sĩ Tiểu Minh Ngọc, thì hình ảnh người cha hiện lên trong thơ của cô sống động theo một cách khác.

Với những hình ảnh quen thuộc như ngọn đuốc đêm, như dòng thác đổ, rộng lớn hơn là như cả Biển Đông, Thi Sĩ miêu tả về đời cha thật cảm động qua những dòng lục bát nhẹ nhàng mà thanh thoát:

Đời cha là ngọn đuốc đêm
Mãi luôn chiếu sáng, càng thêm trong đời…
Cho con cuộc sống có nơi,
Dạy con biết được những lời triết hay…
Và trên hết mọi điều này,
Lời Ngài, Thánh Chúa, phải luôn ghi lòng!

Đời cha ơn nghĩa mênh mông,
Như là thác đổ ra sông thuở nào…
Thương con dạy dỗ không nao,
Từ khi còn nhỏ đến giờ lớn khôn…
Công cha như nước tràn tuôn,
Như nhà có nóc, như sông có nguồn!

Đời con sẽ mãi luôn luôn,
Từng ngày con nhớ và luôn ghi lòng,
Ơn cha là cả biển đông,
Từ thời xưa vẫn, chảy không… giờ ngừng,
Cho con biết được vui mừng,
Khi đời con có cha thường lo cho… 

                               (Đời cha)

Nói về cha, là nói về tấm gương sáng của cha để lại cho con cái trong cuộc đời. Bao giờ cũng vậy, người cha luôn là tấm gương sáng về làm việc cần mẫn, vất vả  để nuôi sống gia đình. Và bao giờ cũng vậy, người cha tin kính Chúa là người cha luôn biết nhắc nhở con cái yêu mến Chúa, yêu mến lời của Ngài, chứ không chỉ lo chăm lo phần tiền bạc, vật chất mà thôi:

Cha là gương sáng đời con,
Người yêu kính Chúa, sắc son một lòng!
Cha là ánh sáng hừng đông,
Chỉ đường con bước theo dòng thời gian!

Nuôi con lao khổ chẳng màng,
Đi làm cực nhọc, không than lời nào,
Chỉ mong có được gạo rau,
Cho con no đủ, thanh cao như người!
Dạy con cách sống vui tươi,
Thương người, kính Chúa, dù đời đổi thay!
Thường xuyên nhắc nhở đêm ngày,
Đừng bao giờ bỏ Lời Ngài xa con,
Vì Trời – Đấng tạo nước non,
Cùng muôn loài vật, cha con chúng mình! 

                          (Gương sáng cho con)

Những ai còn có cha mẹ sống với mình, sống bên mình, đó là một niềm hạnh phúc vô cùng lớn; nhưng một khi cha mẹ đã qua đời, không còn ở bên mình nữa, thì chỉ còn lại nỗi nhớ niềm thương vô biên về cha mẹ mà thôi.

Nhớ thương ba là nhớ đến cuộc đời lam lũ, vất vả, hy sinh vì gia đình, vì con cái của ba để cho con mình được lớn khôn thành người, để cho con mình được thảnh thơi, tránh được những gai chông trong đời:

Thương ba dãi nắng dầm sương,
Thương ba dạy dỗ chỉ đường con đi,
Thương ba chẳng ngại khổ gì,
Thương ba không tiếc việc chi trong đời…
Để nuôi con lớn thành người,
Để con thấy được đất trời mênh mông,
Để con phải biết cậy trông,
Để con tránh được gai chông cuộc đời!
                                 (Nhớ thương ba)

Ca dao thường ví sánh công cha to lớn như núi Thái Sơn bên Trung Hoa:

Công cha như núi Thái Sơn

Nghĩa mẹ như nước trong nguồn chảy ra…

Dù đã thuộc lòng câu ca dao ấn tượng nầy từ hồi còn nhỏ cho đến bây giờ, cũng có lục tìm sách vở để biết về nguồn gốc của ngọn núi nổi tiếng nầy; nhưng có một điều vẫn còn thắc mắc lâu nay, chưa tìm được câu trả lời. Ấy là, chẳng biết lý do làm sao mà cha ông mình lại ví công cha như ngọn núi Thái Sơn ở…tít tận bên Tàu lận, mà không ví với ngọn núi nào ở Việt Nam mình? Việt Nam mình cũng có nhiều ngọn núi đẹp và hùng vỹ mà! Một đất nước được xem là rừng vàng biển bạc với núi rừng bao la và biển cả mênh mông, đẹp đâu thua nước nào trên thế giới!

Tại sao không dùng một ngọn núi tiêu biểu nào đó của nước mình, quê mình mà lại…vay mượn hình ảnh một ngọn núi của nước người ta, cho dù nó có là nổi tiếng đến mấy đi chăng nữa???

Tôi chưa tìm ra được câu trả lời cho đến bây giờ?

Hãy đợi đấy!  Trong tương lai, nếu có thì giờ, sẽ làm một cuộc…nghiên cứu về đề tài…hóc búa nầy, và biết đâu sẽ tìm ra được câu trả lời cũng nên!

Nữ Thi Sĩ cũng dùng hình ảnh ngọn núi Thái Sơn ước lệ đó để diễn tả về công cha, và qua đó bày tỏ lòng biết ơn cha của mình. Có thể nói cha dù làm lụng vất vả, mệt nhọc bao nhiêu, cha cũng không nề hà, miễn thấy con cái mình được khôn lớn là mình mãn nguyện, là mình hạnh phúc:

Núi Thái Sơn, ở Trung Hoa huyền bí,
Bao nhiêu người đã ca tụng trong thơ
Núi không cao, nhưng mây trắng mập mờ,
Tạo nên vẻ, hiên ngang và hùng vĩ!

Người ta ví, công cha thật cao quý,
Như Thái Sơn, là núi đẹp vững vàng,
Bởi quá nhiều, công khó nhọc gian nan,
Thật chẳng biết, làm sao mà kể hết!

Con nhớ mãi, những ngày cha mài miệt,
Ráng đi làm, cùng với mẹ nuôi con,
Bao tháng năm, sức khỏe cũng mỏi mòn,
Cha mãn nguyện, khi nhìn con khôn lớn!

                                 (Núi Thái Sơn)

Khi nói về cha, khi nhớ về cha, thì trong ký ức của người con thường nhớ đến những lời khuyên nhủ, nhắc nhở, và dạy dỗ của người cha-những lời khuyên nhủ, nhắc nhở, dạy dỗ mà ta tưởng như không cần thiết; nhưng rồi khi ta lớn lên, ta mới thấy những lời ấy là quan trọng và cần thiết biết bao nhiêu cho cuộc đời của mình:

Tôi nhớ lúc, cha thường hay căn dặn,
“Phải yêu thương, hòa thuận với mọi người,
Trong gia đình, hãy đùm bọc con ơi,
Chớ gây gỗ, mà sanh ra hờn giận!”

Cha còn dạy, phải siêng năng cố gắng,
Ráng học hành, để có được tương lai,
Luôn cậy trông, vào Thiên Chúa mỗi ngày,
Đấng gìn giữ, sẽ an bày mọi việc!

Thêm vào đó, cha lại còn nhắc nhở,
“Phải để tâm, phụ giúp mẹ khi cần,
Có cơ hội, thì hăng hái dự phần,
Đừng phóng túng, ham chơi mà hư đốn!”

Tôi nhớ mãi, dù nay tôi khôn lớn,
Những lời khuyên, những cực nhọc cả đời,
Thật khó mà, đền đáp hết bạn ơi,
Tình phụ tử, mọi đứa con đều biết!

                               (Ký ức về cha)

Nói về tình cha, viết về tình cha, lòng cha, ơn cha, công cha… thì thiết nghĩ có thể nói đến…Tết Công-Gô cũng chưa thể hết được, vì nó rất bao la như núi, mênh mông như biển. Nhưng dù sao, một số những vần thơ của hai Nhà Thơ trong bài viết nho nhỏ nầy, hy vọng cũng đem đến  một chút những tình cảm tốt đẹp, ấn tượng nào đó về hình ảnh người cha đầy yêu thương và đáng kính trong tâm hồn của mỗi một chúng ta.

Cảm ơn hai Thi Sĩ của Chúa đã trải lòng mình qua những vần thơ viết về cha thật thú vị và để lại nhiều suy nghĩ, nhiều nỗi niềm nhớ thương, yêu quý, và kính trọng về người cha cho mỗi một chúng ta.

Kính chúc hai Nhà Thơ được nhiều sức khỏe và có thêm nhiều cảm hứng để tiếp tục làm thơ ca ngợi Chúa qua nhiều chủ đề khác nhau, hầu khích lệ độc giả gần xa trong cuộc sống cũng như trong niềm tin đặt nơi Chúa.

Kính chúc quý vị và các bạn, nhất là những người cha ở khắp mọi nơi một ngày Lễ Cha thật nhiều niềm vui, và ấm áp bên gia đình, con cái và bên những người thân yêu của mình.

Happy Father’s Day 2021!

Mục Sư Nguyễn – Đình – Liễu.

Tình Trời Vô Biên

Thơ:Tiểu Minh Ngọc

“Nhưng Đức Chúa Trời tỏ lòng yêu thương Ngài đối với chúng ta, khi chúng ta còn là người có tội, thì Đấng Christ vì chúng ta chịu chết.” – Rô-ma 5:8
“Ngợi khen Đức Chúa Trời, là Cha Đức Chúa Jêsus Christ chúng ta, Ngài lấy lòng thương xót cả thể khiến chúng ta lại sanh, đặng chúng ta nhờ sự Đức Chúa Jêsus Christ sống lại từ trong kẻ chết mà có sự trông cậy sống” – 1 Phi-e-rơ 1:3
“Ta sẽ nói đến những sự nhân từ của Đức Giê-hô-va, và sự ngợi khen Đức Giê-hô-va, y theo mọi sự Đức Giê-hô-va đã ban cho chúng ta, và thuật lại phước lớn Ngài đã ban cho nhà Y-sơ-ra-ên, y theo những sự thương xót và sự nhân từ vô số của Ngài.” – Ê-sai 63:7

Chúa thương ta lắm bạn ơi,
Dù khi ta chẳng nói lời biết ơn,
Dù khi mòn mỏi, nao sờn,
Dù khi tội lỗi, bước chơn vô tình…
Nhưng Ngài vẫn chết hy sinh,
Gánh thay tội của chúng mình bạn ơi!
Chúa ban sự sống con người,
Thế gian, mọi vật, mọi thời luân phiên!
Lời Ngài hằng hữu y nguyên,
Cho ta biết Chúa đầu tiên đời đời!
Hãy nên sống biết ơn Trời,
Duy Ngài là Đức Chúa Trời đáng tin!
Đừng nên bất nghĩa vô tình,
Biết rằng Chúa tạo hành trình thế nhân,
Khôn ngoan ta hãy đến gần,
Hạ mình khẩn nguyện xin ân điển Ngài,
Mở lòng mở trí đêm ngày,
Thành tâm tìm hiểu Lời Ngài dạy khuyên,
Hết lòng tin Chúa trước tiên,
Nương nhờ sức thánh năng quyền bước đi!
Trong Ngài, chẳng sợ điều gì,
Bình an miên viễn, chỉ duy mình Ngài,
Sống đời thánh hóa từ nay,
Đi trong đường lối thẳng ngay theo Lời!
Ngợi khen cảm tạ ơn Trời,
Thứ tha tội lỗi cuộc đời chúng ta!Tiểu Minh Ngọc

Tiểu Minh Ngọc
(Bản Tin ĐSPNBT April, 2021)

NGÀY CỦA CHA, NÓI CHUYỆN VỀ…TÌNH CHA

Văn: MS Nguyễn Đình Liễu

Kinh Thánh: Ê-sai 1: 18; 55: 7; Lu-ca 15: 11-24 (*)

Kính chào quý độc giả,

Ngày mà người ta dành để nói về người Cha mỗi năm lại về với chúng ta.

Mỗi năm, người ta dành ra ngày Chúa nhật thứ ba của tháng Sáu để nói về người Cha, để bày tỏ lòng biết ơn những người Cha. Thiết tưởng đó cũng là một tập tục đẹp để nhắc nhở con cái về lòng hiếu thảo với cha mẹ, và để mọi người thêm lên lòng trân trọng những người làm Cha trong xã hội.

Thường thì Lễ Mẹ vào Chúa nhật thứ Hai của tháng Năm hằng năm được tổ chức…nhộn nhịp hơn,…rầm rộ hơn, …hoa lá nhiều hơn. Còn Lễ Cha thì có vẻ…đơn giản hơn, yên lặng hơn và ít …hoa lá cành hơn. Điều đó cũng phải thôi. Những người nam, những ông Cha thì có lẽ thích việc gì cũng đơn giản, gọn, nhẹ hơn là những người nữ, những bà Mẹ thích…hoa lá cành cho đẹp đẽ. Dầu vậy, nhưng tinh thần, tỉnh cảm của hai buổi Lễ nói trên đều rất đẹp rất đáng yêu, đáng quý.

Nói về tình Cha, ca dao của ông cha ta có khá nhiều câu dành để bày tỏ tình cảm đẹp đẽ nầy:

Câu ca dao quen thuộc nhất và có nhiều ý nghĩa nhất mà hầu như không ai không biết về công cha nghĩa mẹ, đó là câu:

+ Công cha như núi Thái Sơn

Nghĩa mẹ như nước trong nguồn chảy ra.

Và nhiều câu ca dao khác nói về tình cha nghĩa mẹ thật sâu sắc:

+ Có tát cạn biển Đông mới tỏ tường lòng mẹ
Không trèo qua non Thái sao thấu hiểu tình cha.

+ Ơn cha bóng núi âm thầm
Nghĩa mẹ lặng lẽ nước sông đầu nguồn

+ Một đời dãi nắng dầm sương
Nuôi con khôn lớn tình thương dạt dào

+ Cha là bóng mát giữa trời
Cha là điểm tựa bên đời của con.

Những câu ca dao trên nói về công Cha, lòng Cha, tình Cha, ơn Cha là lớn lao biết dường nào!

Và sau đây là một vài câu danh ngôn hay về tình Cha:

+ Một đứa con ngủ ngon, yên giấc không đâu bằng trong phòng của cha nó. (Novalis)

+ Tấm lòng của người cha là một tuyệt tác của tạo hóa. (Abbe’ Pre’vost)

+ Trên đời này có bao nhiêu chiếc lá thì bằng vậy lần người cha yêu con. (Jack Baxter)

+ Cha tôi thật kỳ lạ, tôi càng lớn bao nhiêu, cha lại càng tuyệt vời bấy nhiêu. (Mark Twain)

+ Bạn không cần phải đắn đo phân tích cha chúng ta là người như thế nào vì lúc nào lòng cha cũng thật vĩ đại. (Anne Sexton)

+ Trên trái đất này, không có món quà nào ngọt ngào bằng tình yêu thương của người cha cho con mình. (Cicero)

+ Món quà to lớn nhất tôi nhận được từ Thượng Đế đó chính là cha! (Khuyết danh)

Và tiếp theo là một câu chuyện cảm động về lòng hiếu thảo của một người con dành cho cha mẹ.

Câu chuyện nầy có lẽ không còn xa lạ gì với nhiều người trong chúng ta, nhưng là một câu chuyện đáng được nhắc lại để khích lệ tấm lòng hiếu thảo nơi những người con.

Chuyện xưa kể rằng:

“Mẫn Tử Khiên mồ côi mẹ từ thuở nhỏ. Cha lấy vợ kế sinh được hai trai. Người mẹ kế tính ác, chỉ thương con đẻ mà ghét con chồng. Mùa đông giá lạnh, hai em thì áo bông lồng áo kép, còn Tử Khiên thì chỉ được mặc một chiếc áo hoa lao mỏng mảnh.

Một hôm Tử Khiên đánh xe hầu cha, co ro run rẩy. Cha quở mắng, Tử Khiên không đành nói sự thật, nín lặng giục xe đi. Nhưng lạnh quá tay sút dây cương. Cha giận đánh, chẳng ngờ áo Tử Khiên rách. Cha thấy thế mới hay con mình bị vợ kế bạc đãi, giận lắm, toan đuổi người vợ kế đi. Mẫn Tử Khiên liền quì xuống khóc mà thưa rằng:

– Dì con còn ở lại thì chỉ một mình con chịu rét. Dì con mà bị đuổi đi, thì cả ba anh em chúng con đều không có người may áo.

Cha nghe nói cảm động quá, ôm con mà khóc. Người vợ kế hay biết liền ăn năn, hối lỗi. Từ ấy đem lòng thương yêu Mẫn Tử Khiên như con đẻ.”

(Trích từ “Cổ Học Tinh Hoa”)

Mẫn Tử Khiên quả là một người con chí hiếu hiếm có trong cuộc sống đời thường. Đó là một tấm gương hiếu thảo đáng để những người con noi theo vậy!

Kinh Thánh là quyển sách của mọi quyển sách cũng đề cập đến rất nhiều về tình Cha, dạy rất nhiều về sự hiếu thảo của con cái đối với cha mẹ. Có thể nói Kinh Thánh là kim chỉ nam cho mọi hành động của con người chúng ta nếu muốn sống một đời sống  đẹp lòng Đức Chúa Trời và vui lòng người, nhất là vui lòng cha mẹ, người đã sinh thành và dưỡng dục chúng ta nên người.

Câu chuyện Chúa Giê-su kể về người con trai hoang đàng được Văn Sĩ, Sử Gia, Bác Sĩ Lu-ca ghi lại trong Kinh Thánh là một trong những câu chuyện nổi tiếng bậc nhất, cảm động bậc nhất về tình Cha dành cho con cái mà con người biết được.

Câu chuyện xin được tóm lược bằng…thơ như sau:

“Người kia có hai con trai

Người em muốn có gia tài cha cho

Cha chia của, không đắn đo

Chàng ta ôm của mặc đồ đi xa

Có tiền có của thế là

Ăn chơi, đàng đúm xa hoa thị thành

Chẳng bao lâu sạch sành sanh

Không đồng dính túi, vắng tanh bạn bè

Xảy cơn đói kém kéo về

Tiền bạc không có, làm thuê cho người

Chăn heo kể thật cũng tồi

Đói ăn vỏ đậu, chủ thời không cho

Nghĩ suy tỉnh ngộ dày vò

Nhà cha đầy tớ không lo ăn gì

Ta đây chết đói như ri

Ta sẽ đứng dậy mà đi về nhà

Nó đứng dậy về nhà cha

Khi cha thấy nó đằng xa, ông mừng

Chạy ra ôm cổ mà hun

Lòng nó cảm động đến run cả người

Con đặng tội Trời, cha thôi

Đối con như tớ được rồi, chi hơn

Nhưng cha cho nổi nhạc đờn

Lấy đồ tốt nhứt mặc con trai mình

Đeo nhẫn, mang giày đẹp xinh

Bắt bò con mập linh đình mừng vui

Con ta tưởng đã chết vùi

Mà nay lại sống ta thời vui sao

Con ta tưởng mất nơi nao

Mà nay lại thấy vui nào hơn đâu!…”

(Lược kể từ sách Lu-ca, chương 15, câu 11-24)

Tình Cha, tấm lòng Cha trong câu chuyện mà Chúa Giê-su kể ở đây thật vô cùng cảm động. Khó có thể có câu chuyện nào hay hơn, cảm động hơn câu chuyện nầy.

Tình Cha hiện lên trong câu chuyện thật quá bao la, ngược lại với tất cả mọi sự suy nghĩ hạn hẹp,  tấm lòng hẹp hòi, ích kỷ của đầu óc con người bình thường như chúng ta.

Người Cha ở đây phải là người có một trái tim bao dung lớn  đủ để tha thứ cho những lỗi lầm của người con bất hiếu nầy. Người Cha bỏ qua tất cả mọi lỗi lầm của con, dang rộng vòng tay yêu thương của mình để đón con trở về với tất cả niềm vui mừng thật sự trong trái tim ông.

Tôi đọc đi đọc lại câu chuyện nầy nhiều lần và cũng đã giảng nhiều lần câu chuyện nầy, nhưng không lần nào mà không cảm thấy tim mình cảm động và thầm phục trái tim rộng lớn của người Cha đáng kính trọng nầy.

Người Cha trong câu chuyện cảm động nầy là một minh họa sống động cho tình Cha thiêng liêng trên trời là Đức Chúa Trời dành cho con người tội lỗi chúng ta.

Trái tim của Đức Chúa Trời thật lớn rộng. Khi con người là loài thọ tạo của Ngài, bất tuân mạng lệnh của Ngài, ăn trái cây mà Đức Chúa Trời cấm ăn trong vườn Ê-đen xưa kia; thì tội lỗi đã vào trong thế gian. “Bởi tội lỗi mà có sự chết, và sự chết đã trải qua trên hết thảy mọi người như vậy, vì mọi người đều phạm tội…” (Sách Rô-ma, chương 5, câu 12)

Nhưng Đức Chúa Trời đã không bỏ con người trong sự quá phạm của họ. Ngài đã có sẵn một chương trình để cứu con người ra khỏi tội. Chương trình đó chính là “Đức Chúa Giê-su Christ đã đến trong thế gian để cứu vớt kẻ có tội; ấy là lời chắc chắn đáng đem lòng tin trọn vẹn mà nhận lấy.” (Sách I Ti-mô-thê, chương 1, câu 15)

Một khi bạn và tôi nhận biết mình là tội nhân (ăn cơm Trời, uống nước Trời, thở không khí của Trời, và hưởng biết bao nhiêu ơn huệ của Ông Trời. Chúa Giê-su là hiện thân của Ông Trời đã xuống thế gian chịu chết thay tội cho chúng ta, và rồi sống lại và sống mãi mãi để ban sự cứu rỗi cho chúng ta,  mà không thờ Trời, đó là một trọng tội), tỉnh ngộ ăn năn quay trở về cùng Cha thiêng liêng của mình là Đức Chúa Trời, như người con hoang đàng trong câu chuyện trên đã biết ăn năn, đứng dậy quay về nhà Cha, thì chắc chắn bạn sẽ được Đức Chúa Trời tha thứ hết mọi tội lỗi và vui mừng đón bạn vào trong đại gia đình của Ngài là Hội Thánh  mà Chúa Giê-su đã mua bằng chính huyết của Ngài.

Chính Chúa đã phán rằng: “Dầu tội các ngươi như hồng điều, sẽ trở nên trắng như tuyết; dầu đỏ như son, sẽ trở nên trắng như lông chiên.” (Sách Ê-sai, chương 1, câu 18)

Vâng, đó chính là sự tha thứ của Đức Chúa Trời. Và sự tha thứ của Ngài thật là tuyệt vời cho những ai biết ăn năn trở về cùng Cha thiêng liêng của mình.

Một chỗ khác, Kinh Thánh cũng dạy: “Kẻ ác khá bỏ đường mình, người bất nghĩa khá bỏ các ý tưởng; hãy trở lại cùng Đức Giê-hô-va, Ngài sẽ thương xót cho, hãy đến cùng Đức Chúa Trời chúng ta, vì Ngài tha thứ dồi dào.” (Sách Ê-sai, chương 55, câu 7)

Đức Chúa Trời có lòng tha thứ dồi dào cho bất cứ tội nhân nào có lòng ăn năn trở về cùng Ngài.

Tôi đã được Chúa thức tỉnh, nhận biết tội lỗi của mình và tôi đã quay về bên Cứu Chúa yêu thương cách đây nhiều năm rồi. Và Ngài đã tha thứ mọi tội lỗi cho tôi, nhận tôi làm con của Ngài, cho tôi được kêu Ngài là Cha, và đưa tôi vào trong đại gia đình của Ngài là Hội Thánh  để cùng thờ phượng Chúa và thông công với các con cái Chúa khác trong tình thân ái tuyệt vời.

Bạn có muốn được làm con cái của Ngài và kêu Ngài là Cha như tôi không?

Xin mời bạn hãy trở về với Ngài hôm nay, xưng nhận tội lỗi và xin Ngài tha thứ. Chắc chắn bạn sẽ được Ngài tha thứ và ban ơn cứu rỗi để làm con của Ngài chẳng sai.

Hãy mạnh dạn đứng dậy trở về bên Chúa yêu thương ngay hôm nay, đừng tự ty mặc cảm, đừng nhìn ai cả, đừng để bất cứ truyền thống “xưa bày nay bắt chước” vô hình nào đó trói buộc mình cả, giống như người con hoang đàng đã mạnh dạn trở về với Cha của mình vậy để hưởng sự vui mừng tuyệt vời mà Ngài ban cho những người làm con cái Ngài!

Mong chờ bạn hãy đến với Đức Chúa Trời là Cha thiêng liêng ngay hôm nay!

Kính chúc những người Cha một ngày Lễ Cha thật hạnh phúc trong vòng tay của những người yêu thương mình, và đặc biệt là được ở trong vòng tay yêu thương của Đức Chúa Trời là Cha yêu thương thiêng liêng của chúng ta!

Mừng Ngày Lễ Cha 2021

Mục Sư Nguyễn – Đình – Liễu.

(*): Những câu Kinh Thánh trong bài viết là trích từ Kinh Thánh Bản Truyền Thống (BTT)

CÔNG CHA, NGHĨA MẸ…

Thơ: Bình Tú Ngọc

Cảm tạ Chúa đã ban cho cha mẹ
Sinh ra ta và nuôi dưỡng thành người
Dựng vợ gả chồng đưa ta vào đời
Công khó ấy lớn lao như trời bể…

Chín tháng mười ngày, mẹ đâu có kể
“Nghĩa mẹ như nước trong nguồn chảy ra” (1)
Tình yêu của mẹ thật quá bao la
Cuộc đời mẹ dành cho con tất cả …

“Công cha như núi” (2), làm sao diễn tả
Tóc bạc, lưng còng làm việc nuôi ta
Từ khi còn trẻ cho đến tuổi già
Hạnh phúc đời cha là con, là cháu…

Ôi cha mẹ, hai từ thiêng liêng quá
Hai tiếng thân thương, đáng quý vô cùng
Nhắc đến mẹ cha, thương nhớ chập chùng
Nhắc đến mẹ cha, lòng yêu, yêu mãi…

Cha mẹ giờ đây ở nơi xa ngái
Thiên đàng vui hưởng phước hạnh muôn thu
Nhớ cha, nhớ mẹ, nỗi nhớ vô bờ
Hiện về trong con, qua vần thơ phú…

Cảm tạ Cha Trời hằng luôn chăm chú
Ban ơn cứu rỗi cho mẹ cho cha
Một người tin, được cứu cả nhà (3)
Phước hạnh nào hơn, gia đình được cứu…

Mừng Ngày Lễ Cha 2021
Bình Tú Ngọc

(1): Trích từ câu ca dao:
“Công cha như núi Thái Sơn
Nghĩa mẹ như nước trong nguồn chảy ra.”
(2): Ý từ câu ca dao “Công cha như núi Thái Sơn…” ở (1)
(3): Dựa theo ý trong sách Công vụ các sứ đồ 16: 31

NHỚ CHA, CON NHỚ…

Thơ: Bình Tú Ngọc

Nhớ cha, con nhớ nụ cười
Với hàm răng trắng thật tươi, dễ gần
Người lạ cứ tưởng như thân
Thấy cha chào nói, hỏi han chân tình…
Nhớ cha, con nhớ dáng hình
Mái tóc bạc trắng đẹp xinh lạ kỳ
Bao người tóc bạc đó chi
Trong tâm con chỉ khắc ghi tóc Người…
Nhớ cha, nhớ tính rộng rời
Thương người nghèo khổ bên đời con ơi
Lời Chúa đã dạy đó thôi
“Như cho Chúa mượn”, Chúa thời thưởng cho… (1)
Nhớ cha, nhớ tính ngay lành
Không ưa xu nịnh, nói hành, vu oan
Sống ngay thẳng, sống đàng hoàng
Không tham tiền của, chẳng màn lợi danh…
Nhớ cha, nhớ đến tinh thần
Sốt sắng rao giảng Tin Lành khắp nơi
Cho người hư mất chơi vơi
Trở lại cùng Chúa, sống đời bình yên…
Nhớ cha, nhớ tính trung kiên
Một lòng theo Chúa, như kiềng ba chân
Cho dù thử thách nhiều lần (2)
Đức tin cứ tiến đến gần Thiên cung…

Nhớ cha, con nhớ vô cùng
Một đời vất vả muôn trùng của cha
Mà cha vẫn sống chan hòa
Thỏa vui trong Chúa, thiết tha yêu Ngài
Cha không để lại tiền tài
Di sản cha để lâu dài: ĐỨC TIN!

Ngày Lễ Cha 2021
Bình Tú Ngọc

(1): Theo ý trong sách Châm ngôn 19: 17
(2): Cha tôi gặp rất nhiều thử thách trên linh trình theo Chúa như 2 người con chết; bò chết, heo chết; vợ chết khi mới sinh đứa con chưa đầy ba tháng tuổi; rồi nhà cháy và sống cuộc đời nghèo khó, vất vả.

Im Lặng

Văn: Châu Sa

     Gần đây, nhiều người học theo những thú hưởng nhàn của người Nhật, họ chơi kiểng lùn, cây khô và đá thủy thạch. Thủy thạch (水石 tiếng Nhật là Suiseki) là những tảng đá nhặt ở bờ biển.  

    Đá này thường màu đen sậm, chắc nịch, hình dáng đẹp đẽ hoặc cổ quái.  Người chơi đá nói rằng những tảng đá vì sống lâu cả ngàn năm nên chắc chắn phải có lai lịch.  Có thể bắt đầu từ vách núi đá sát bờ biển, sóng biển đánh vào đêm ngày, năm nầy qua năm khác, vách núi đá đã vỡ ra từng tảng. Có tảng đã tan tành thành cát.  Những tảng lì lợm với sự vùi dập, sự tắm gội của thủy triều, đến nay vẫn “trơ gan cùng tuế nguyệt” là những tảng đá quí giá.  Có tảng được bán cả ngàn đô-la.  Nhiều người chiêm ngưỡng, trầm ngâm trước những tảng đá đó hằng giờ.  Họ suy gẫm về cuộc đời của nó, về sức chịu đựng kiên trì của nó.  Có người quả quyết đã nghe đá tâm sự.  Đá nhắn nhủ họ: “Hãy Im Lặng”.  

    Nói về sự im lặng, thì có người chiêm ngưỡng sự im lặng của núi non, của biển cả. Những con “mọt sách” thì ca tụng sự im lặng của sách. Những quyển sách tuy nằm im thin thít, nhưng có thể nói lên hàng … pho!  Bao nhiêu câu chuyện vui buồn, tình tiết gay cấn, éo le, lâm ly hay lãng mạn đều nằm trong sách.  Sách sẽ mở lòng, giãi bày tâm sự cho người chiếu cố!  Trong đời sống với nhiều sự vội vã, nhiều tiếng động ồn ào, nhiều đôi co tranh cãi vô bổ, nhiều sự đốp chát, mạt sát nhau thì sự im lặng lắm khi rất cần thiết. 

    Trong rất nhiều tình huống, chúng ta không ân hận vì mình giữ im lặng, mà thường hối tiếc những lời nóng nảy mà mình lỡ “phun” ra! Một anh nọ có tật phát ngôn bừa bãi, thường hay hối tiếc những lời không đẹp mà mình đã nói, rất lấy làm tức bực vì tập mãi mà vẫn không kiềm chế được miệng lưỡi của mình khi gặp chuyện bất như ý.  Đi tìm thầy vấn kế, thầy dạy mỗi lần anh phát ngôn những lời không lành thì hãy đóng một cây đinh vào hàng rào gỗ nhà anh. Ngay ngày đầu tiên, anh đã đóng trên 20 cây đinh vào gỗ rào!  Cảnh giác được điều này, càng ngày anh càng cố tập giữ môi miệng, nên số đinh đóng ngày một ít dần đi.  Bây giờ minh-sư lại dạy tiếp:  “ngày nào anh không phát ngôn ậu xị thì nhổ ra bớt một cây đinh mà trước kia đã đóng”.  Sau một thời gian, nhờ kiên trì tập luyện, anh giữ gìn môi miệng như người ta khéo đậy nắp một bình hương.  Số đinh trên rào đã được nhổ ra hết.  Anh mời minh-sư về làm tiệc ăn mừng.  Sau khi thầy ngỏ lời khen ngợi xong, bèn chỉ vào những lỗ đinh và nói:  “Tuy đinh đã nhổ, nhưng lỗ còn hoài. Những lời không đúng, không đẹp mà con thốt ra, tuy con đã xin lỗi và nạn nhân đã tha thứ cho con rồi, nhưng vết thương lòng của họ nhiều khi vẫn còn đâu đó”.  Vì vậy, cổ nhân khuyên chúng ta: “Thủ khẩu như binh”.  

    Giữ im lặng để không nói xấu người khác có lẽ không khó bằng nín nhịn khi bị người khác vu cáo, bôi lọ, sỉ nhục bất công. Chữ nho của nhịn là NHẪN (忍), chiết tự là mũi dao đâm vào tim, nghĩa là đau đớn lắm.  Trong Thánh Kinh, sách Châm Ngôn (12:18) có câu: “Nói quá lời, chẳng khác nhát dao đâm.”*  Đau nhưng nhịn.  Người khác có thể thấy người nín nhịn là hèn yếu, hay ngốc nghếch, nhưng thực sự người nín nhịn vì đại cuộc là người có nghị lực, có công phu hàm-dưỡng thâm hậu. Cái khí hung hăng của kẻ thất phu, lỗ mãng không thể so bì được với đức im lặng, nín nhịn của bậc thượng trí.  Điềm đạm, trầm tĩnh trong sự nín nhịn là cái dũng của thánh nhân.  Kinh Thánh chép: “Dũng sĩ còn thua người biết nén giận hờn, Tự chủ được hơn chiếm toàn thành phố”* (Châm Ngôn 16:32).  “Im lặng là khôn, dù thực chất dại ngu, Giữ miệng lưỡi được còn hơn thông sáng”* (Châm Ngôn 17:28).  

    Có lẽ nhiều người đã biết câu chuyện Lạn Tương Như nhịn nhục đối với võ tướng Liêm Pha.  Cả hai đang phò vua nước Triệu.  Thời này, nước Tần lớn và mạnh nhưng không dám gây hấn với Triệu vì nước Triệu có 2 người tài là họ Liêm và họ Lạn.  Liêm Pha ganh tị với Lạn nên thường hay khiêu khích Lạn.  Lạn thường tránh mặt Liêm, có lần đang đi, bỗng thấy Liêm đàng xa thì ông bèn ra lệnh đánh xe vào ngõ hẻm nhỏ tránh đi.  Những người hầu cận rất lấy làm bực tức, xấu hổ cho chủ mình.  Về sau, mọi người mới hay ra Lạn Tương Như nhịn là vì quốc gia đại sự.  Liêm Pha lấy làm xấu hổ, ăn năn, đến xin Tương Như tha tội cho kẻ bất trí ngông cuồng.  Từ đó, hai người kết làm anh em cho đến lúc lâm chung mà chẳng quên nhau.  

    Cổ nhân thường nhắc: “Không biết nhịn điều nhỏ sẽ mất mát việc lớn” (tiểu bất nhẫn dĩ thất đại dã).  Trong nội các của Tổng Thống Abraham Lincoln, có ông Bộ Trưởng Bộ Chiến Tranh tên là Edwin M. Stanton. Vì bất đồng ý kiến sao đó mà E. Stanton rất ghét ông “xếp” của mình. Ông ta nói xấu đủ điều về TT Lincoln.  Ông thường ví Tổng Thống như khỉ vượn vì khuôn mặt không đẹp của vị TT.  Ông Lincoln vẫn biết mình bị bôi lọ, nhưng vẫn điềm tĩnh im lặng, bỏ ngoài tai, không truy tội, không đôi co một lời, vì gánh nặng quốc gia lúc đó thật phức tạp, nặng nề.  Sau khi Tổng Thống Lincoln bị ám sát chết, Edwin Stanton hối hận qua hai hàng nước mắt, công nhận Abraham Lincoln đúng là một vĩ nhân.  Câu nói bất hủ của ông về Lincoln là: “Now he belongs to the ages”.  

    Thánh Kinh ghi lại đức tính nín nhịn của một người rất lạ tên là Giê-Su.  Ông là một Thần Nhân, vừa là Con Đức Chúa Trời vừa là con người.  Lai lịch của ông thật lạ lùng, lạ từ lúc sanh (bởi một nữ đồng trinh), sống vô tội nhưng phải chết như một người phạm trọng tội mà không một lời kêu oan, rồi sống lại sau ba ngày.  Chỉ ở trần gian 33 năm, mà ông ảnh hưởng rất nhiều trên đất.  Ngày nay, hàng tỉ người tôn thờ ông là Chúa.  Lịch sử nhân loại được chia đôi: những năm truớc Chúa, và những năm sau Chúa.  Nhà tiên tri Êsai sống cách nay lối 2800 năm có tiên đoán về sự giáng sinh, cái chết cùng sự phục sinh của Chúa Giê-Su.  Nhà tiên tri cho biết Ngài chính là Đấng Mê-si-a, tức là Đấng Christ mà người dân Do Thái hằng mong đợi.  Về sự thương khó của Ngài, Esai đã tiên đoán trong chương 53 rằng nhiều người nghĩ rằng Ngài bị Đức Chúa Trời đánh đập, sửa phạt. Nhưng thật ra, “người đã vì tội lỗi chúng ta mà bị vết, vì sự gian ác chúng ta mà bị thương.  Bởi sự sửa phạt người chịu chúng ta được bình an, bởi lằn roi người chúng ta được lành bịnh.”  Ngài là Đấng Cứu Chuộc, bởi vì: “Chúng ta thảy đều như chiên đi lạc, ai theo đường nấy: Đức Chúa Trời đã làm cho tội lỗi của hết thảy chúng ta đều chất trên người.”  Nín nhịn vì đại cuộc, vì tình yêu quá đỗi lớn lao qua chương trình cứu rỗi nhân loại vĩ đại của Đức Chúa Trời, Ngài đã giữ im lặng không một lời kêu oan trước những kẻ ác đã vu khống, làm chứng dối về Ngài.  Điều này cũng đã được chép trước trong Êsai 53:7 “Người bị hiếp đáp, nhưng khi chịu sự khốn khổ chẳng hề mở miệng. Như chiên con bị dắt đến hàng làm thịt, như chiên câm ở trước mặt kẻ hớt lông, người chẳng từng mở miệng.”  Nhờ sự nín nhịn và chịu khổ nạn đóng đinh, chịu đổ huyết của Chúa Giê-Xu mà chương trình Cứu Thế được thành tựu tốt đẹp.  

    Hàng tỉ người đã tin vào dòng máu tình yêu này mà được xoá sạch tội lỗi và được xưng công nghĩa trước mặt Đức Chúa Trời.  Họ trở thành con cái Đức Chúa Trời.  Vĩ đại thay sự im lặng của Chiên Con!

*theo Thi Ca Thánh Kinh (bản thơ dịch diễn ý) của Phan Như Ngọc.

Trích Nếp Sống Mới Tháng 3-4 Năm 2002 (hiệu đính)

Châu Sa

RỜ CHẠM CHÚA

Thơ: Thanh Hữu

 Bà đã nghe nói về Đức Chúa Jêsus nên lẩn vào giữa đám đông, tiến đến phía sau Ngài và chạm vào áo Ngài. Lập tức, máu cầm lại. Bà cảm nhận ngay rằng mình đã được chữa lành.  Đức Chúa Jêsus phán: “Hỡi con gái Ta, đức tin của con đã cứu con; hãy đi bình an và được lành bệnh.” (Mác 5:27,29,34)

Có những lúc, ta thấy mình cô độc,
Giữa thế trần, trên bảy tỷ nhân sinh.
Chen chúc nhau giữa thế giới hành tinh,
Tim trĩu nặng, ôm tâm hồn rướm máu?

Một thiếu phụ, mười hai năm sầu não,  [1]
Với bệnh tình, băng huyết kéo dài lâu.
Bỗng nghe tin một Cứu Chúa nhiệm mầu,
Chị tìm đến, bước theo sau hy vọng.

Chen lấn theo một đoàn người di động,
Nghĩ mình cần, chỉ chạm áo Chúa thôi.
Giữa đám đông, giữa chèn ép bao người,
Chị cúi xuống, chạm vải thô trôn áo. [2]

Sức sống mới, trong quyền năng tái tạo,
Thật lạ lùng, huyết rỉ bỗng liền ngưng.
Chị hân hoan tim rộn rã vui mừng,
Ơn thương xót, Đấng quyền uy chữa bịnh.

“Hỡi con gái, đức tin con lành bệnh,
Hãy đi về, vui hưởng sự bình an”. [3]
Chúa phán tuyên, niềm an ủi tuôn tràn,
Hy vọng mới dâng cao như trời bể.

Như thiếu phụ, bao lần ta rơi lệ,
Bao lần ta để máu rỉ trong tim.
Đã bao lần, ta mặc cảm im lìm,
Trong thổn thức, tìm được ai thông cảm?

Xin mời đến, xin mời ta đụng chạm,
Với năng quyền một Cứu Chúa yêu thương.
Rịt vết đau, Ngài băng bó đoạn trường,
Ngài an ủi, ban tin yêu hy vọng.

Hãy nhìn lên, một bầu trời cao rộng,
Một chương trình, một mục đích Ngài ban. [4]
Một tương lai, một kỳ vọng huy hoàng,
Chúa dành sẵn, trong tầm tay rờ chạm.

THANH HỮU
Tháng 6 năm 2021
[1] Mac 5: 25
[2] Mac 5:27
[3] Mac 5:34
[4]  Phi-líp 3:14