Đúng Khả Năng

Dưỡng Linh: Ngọc Huỳnh Bích

“Kê-na-nia, trưởng tộc người Lê-vi, cai việc ca xướng, và dạy hát, vì người giỏi về nghề ấy.” – 1 Sử Ký 15:22

Sách 1 Sử Ký có một phần giống sách 2 Sa-mu-ên; trong đó nói về sự cai trị của vua Đa-vít. Một trong những việc quan trọng mà vua Đa-vít đã làm đó là cùng dân sự thỉnh hòm giao ước vào đền thờ. Trước đây, họ khiêng hòm giao ước cùng đi với họ trong đồng vắng. Trong đền tạm, hòm giao ước được đặt nơi Chí Thánh, vì đó là nơi Đức Chúa Trời ngự. “Nhưng hơn 75 năm, hòm giao ước không có mặt trong đền thánh ở Si-lô. Dân Phi-li-tin đã cướp lấy hòm giao ước khi Hê-li làm quan xét (1 Sa-mu-ên 4:1-22), sau đó trả nó về cho dân Y-sơ-ra-ên vì Đức Giê-hô-va đã giáng sự đoán phạt Ngài trên dân Phi-li-tin. Ban đầu hòm giao ước được gởi đến Bết-Sê-mết sau đó được đem đến Ki-ri-át- Giê-a-rim và được gìn giữ trong nhà A-bi-na-đáp (1 Sa-mu-ên 5:1-7:1).” (1) Một tai nạn đã xảy ra, khi Chúa giết chết U-xa khi ông đụng vào hòm giao ước vì sợ nó rớt xuống…; và vua Đa-vít sợ nên đã đưa hòm giao ước vào nhà Ô-bết-Ê-đôm, là một người Lê-vi, nó được để lại đó trong 3 tháng (1 Sử Ký 13:9-14).

Sau khi vua Đa-vít đã “…cất cho mình những cung đền tại thành Đa-vít, và sắm sửa một nơi cho hòm của Đức Chúa Trời, cùng dựng nhà trại cho hòm ấy” (1 Sử Ký 15:1); ông đã nói với người Lê-vi rằng, “… Ngoại trừ người Lê-vi, chẳng ai xứng đáng khiêng hòm của Đức Chúa Trời, và hầu việc Ngài luôn luôn” (1 Sử Ký 15:2). Người Lê-vi là những người thuộc chi phái Lê-vi, họ được Đức Chúa Trời biệt riêng ra để lo công việc trong đền thờ; và chỉ có họ mới được khiêng hòm giao ước của Đức Chúa Trời; “Các con cháu Lê-vi dùng đòn khiêng hòm của Đức Chúa Trời trên vai mình, y như Môi-se đã dạy bảo tùy lời của Đức Giê-hô-va” (1 Sử Ký 15:15). Trong những tộc tưởng của người Lê-vi, có ông Kê-na-nia, là người coi sóc việc “ca xướng và dạy hát,” có thể gọi là người lãnh đạo hướng dẫn ban hát thờ phượng trong đền thờ.

Lời Chúa cho chúng ta biết, ông Kê-na-nia làm nghề này vì ông “giỏi về nghề ấy.” Ông Kê-na-nia đã dùng ân tử ca hát để dạy và huấn luyện cho những người khác cùng ca ngợi Chúa. Đúng như Lời chúa dạy, những ân tứ Thánh Linh Chúa ban cho là để hầu việc Ngài và nâng đỡ anh em mình, “Mỗi người trong anh em hãy lấy ơn mình đã được mà giúp lẫn nhau, khác nào người quản lý trung tín giữ các thứ ơn của Đức Chúa Trời” (1 Phi-e-rơ 4:10). Đây cũng là một tiêu chuẩn quan trọng để chọn người hầu việc Chúa – đúng ân tứ thích hợp cho công việc. Ngày nay, trong Hội Thánh, có những người vì muốn có danh tiếng, hay vì mục đích riêng, họ muốn làm công việc lớn nhưng lại không có ân tứ cho công việc đó. Chúng ta nên cẩn thận khi chọn người hầu việc Chúa cho mỗi công việc. Có 3 điều quan trọng, mà chúng ta cần làm khi tìm người cho một công việc hay chức vụ nào đó.

_Thứ nhất, tìm người kính yêu Chúa hết lòng; vì có kính yêu Chúa thì mới có thể hầu việc Chúa hết lòng, làm vì yêu Chúa. “Vì nầy là sự yêu mến Đức Chúa Trời, tức là chúng ta vâng giữ điều răn Ngài…” (1 Giăng 5:3).
_Thứ hai, tìm người có ân tứ, đúng khả năng cho công việc đã dự định. Chúng ta biết rằng Chúa ban cho mỗi người những ân tứ khác nhau, “Vả, có các sự ban cho khác nhau, nhưng chỉ có một Đức Thánh Linh” (1 Cô-rinh-tô 12:4). Phải khám phá, tìm xem anh chị em mình có ân tứ gì, và khích lệ họ dùng nó để hầu việc Chúa, hầu đem lại kết quả tốt nhất. “Mọi điều đó là công việc của đồng một Đức Thánh Linh mà thôi, theo ý Ngài muốn, phân phát sự ban cho riêng cho mỗi người” (1 Cô-rinh-tô 12:11).
_Thứ ba, cầu nguyện xin Chúa cho mình biết ai là người thích hợp cho công việc Chúa; bởi vì có thể có vài người có khả năng, nhưng Chúa biết người nào là tốt nhất. “…Lạy Cha chúng con ở trên trời, Danh Cha được tôn thánh, Nước Cha được đến, Ý Cha được nên, ở đất như ở trời” (Ma-thi-ơ 6:9-10).

Nguyện xin Chúa giúp chúng con nhận biết được ân tứ Chúa ban và sử dụng nó để hầu việc Ngài, và giúp đỡ, hướng dẫn anh chị em chúng con cùng lớn lên trong Chúa và hầu việc Ngài! Xin Chúa thêm sức, dẫn dắt, bày tỏ ý Ngài cho chúng con biết để chúng con sống làm đẹp lòng Chúa, vinh hiển Danh Ngài, và truyền ra Tin Lành cứu rỗi cho mọi người chung quanh! Amen!


Cùng nhau hiệp một, mà hầu việc,
Ân tứ Chúa ban, sử dụng vào,
Thực hiện Lời Ngài, không chuyển đổi,
Tin Lành truyền bá, mãi không nao!
Cầu xin Linh Chúa luôn yên ủi,
Dẫn dắt con đi, đến nơi nào,
Như ý của Ngài, là tốt nhất,
Vui mừng khen ngợi, Chúa tôn cao!

Ngọc Huỳnh Bích

___________________________________________________________
(1) Giải Nghĩa Kinh Thánh của Warren W. Wiersbe

CHUYỆN…BẠN BÈ

Văn: MS Nguyễn Đình Liễu

Kính chào quý độc giả,

Khi sống trong cuộc đời, bạn bè không ai là không có.

Không nhiều thì ít, mỗi người đều có bạn bè.

Bạn có bao nhiêu bạn? Tôi không biết! Nhưng tôi biết, trong số những bạn bè của bạn đó, số bạn tốt ít hơn số bạn xấu,  và số bạn kể như tri âm tri kỷ thì có thể nói đếm trên đầu ngón tay của một bàn tay, chưa chắc đã đủ. Bạn  thấy tôi nói đúng không?

Tôi cũng có bạn, và cũng như bạn, bạn tốt không nhiều, bạn tri âm tri kỷ lại càng ít, rất ít. Nhưng tôi có một người bạn…rất đặc biệt mà tôi có bày tỏ với bạn  trong bài viết nầy.

Có một số những câu tục ngữ, ca dao nói về bạn bè rất quen thuộc như sau:

+ Học chọn nơi, chơi chọn bạn

+ Học thầy không tày học bạn

+ Giàu vì bạn, sang vì vợ

+Sông Cửu Long nghìn năm vẫn chảy,
Nghĩa bạn bè mãi mãi không phai.

+ Đã là bạn thì mãi mãi là bạn,
Đừng như sông lúc cạn lúc đầy.

+ Khi nào trái đất còn quay,
Trái tim còn đập vẫn là bạn nhau.

Cũng có những câu nói về bạn bè nghe thật…thấm thía:

+ Bạn bè xấu làm hư thói nết tốt (Thánh Kinh)

+ Bạn bè như những chiếc xe tắc-xi, gặp lúc trời mưa, tìm đỏ con mắt cũng không thấy một chiếc.

+ Lúc khó khăn mới biết ai là bạn, khi hoạn nạn mới hiểu bạn là ai.

Nói về chuyện… bạn bè, tôi chợt nhớ đến bài thơ Khóc Dương Khuê” nổi tiếng của Nhà Thơ Nguyễn Khuyến với một tình bạn thật  thâm trầm, sâu sắc:

Bác Dương thôi đã thôi rồi,
Nước mây man mác ngậm ngùi lòng ta…
Rượu ngon không có bạn hiền,
Không mua không phải không tiền không mua.
Câu thơ nghĩ đắn đo không viết,
Viết đưa ai, ai biết mà đưa;
Giường kia treo những hững hờ,
Đàn kia gẩy cũng ngẩn ngơ tiếng đàn.

Khi Dương Khuê qua đời, lòng Nhà Thơ như cả một trời ngậm ngùi, thương nhớ. Rượu dù ngon, cũng không mua nữa. Không mua, không phải vì không tiền, mà vì không còn bạn hiền. Năm chữ “không” trong hai câu thơ được Nhà Thơ dùng thật hay, diễn tả được cái nỗi buồn mênh mông khi không còn bạn hiền bên cạnh. Khi bạn hiền ra đi, Nhà Thơ như cảm thấy trống vắng cả một vùng trời rộng lớn, nên cũng không buồn làm thơ nữa, vì có còn ai cảm được thơ mình nữa đâu? Giường cũng treo lên, và đàn cũng không thèm gảy nữa, vì có còn ai thưởng thức được tiếng đàn của mình nữa. Nhà Thơ mượn ý từ hai điển tích văn học cổ về tình bạn tri âm tri kỷ để bày tỏ nỗi lòng của mình với người bạn hiền vừa quá cố. Đó là: Trần Phồn đời Hậu Hán sau khi Từ Trĩ đến chơi rồi ra về thì treo giường lên, không muốn cho ai ngồi vào cái giường chỉ dành riêng để tiếp bạn hiền. Bá Nha sau khi Chung Tử Kì chết thì không còn chơi đàn nữa, bởi thấy không còn ai hiểu được tiếng đàn của mình như Chung Tử Kỳ.

Thật sâu sắc!

Trong Kinh Thánh, có nói đến một tình bạn rất thâm trầm sâu sắc giữa Giô-na-than và Đa-vít:

“Đa-vít vừa tâu xong cùng Sau-lơ, thì lòng của Giô-na-than khế hiệp cùng lòng Đa-vít, đến đỗi Giô-na-than yêu mến Đa-vít như mạng sống mình.” (Sách I Sa-mu-ên, chương 18, câu 1) (*)

Khi Giô-na-than ra trận và bị chết, Đa-vít đã có những vần ai thi về người bạn thiết hữu của mình rất thâm sâu:

“Hỡi Giô-na-than, anh tôi! Lòng tôi quặn thắt vì anh.

Anh làm cho tôi khoái dạ;

Nghĩa bầu bạn của anh lấy làm quý hơn tình thương người nữ.”

(Sách II Sa-mu-ên, chương 1, câu 26)

Được làm bạn với một người giỏi giang, cao trọng là một phước lớn; nhưng được làm bạn với Đức Chúa Trời thì không còn phước nào lớn hơn thế.

Kinh Thánh cho biết Áp-ra-ham được Chúa cho phép ông làm bạn của Ngài:

“Áp-ra-ham tin Đức Chúa Trời, và điều đó kể là công bình cho người; và người được gọi là bạn Đức Chúa Trời.” (Sách Gia-cơ, chương 2, câu 23)

Chính Chúa Giê-su cũng đã từng phán với các môn đồ của Ngài rằng:

“Điều răn của ta đây nầy: Các ngươi hãy yêu nhau, cũng như ta đã yêu các ngươi. Chẳng có sự yêu thương nào lớn hơn là vì bạn hữu mà phó sự sống mình. Ví thử các ngươi làm theo điều ta dạy thì các ngươi là bạn hữu ta. Ta chẳng gọi các ngươi là đầy tớ nữa, vì đầy tớ chẳng biết điều chủ mình làm; nhưng ta đã gọi các ngươi là bạn hữu ta, vì ta từng tỏ cho các ngươi biết mọi điều ta đã nghe nơi Cha ta.” (Sách Giăng, chương 15, câu 12-15)

Từ một tội nhân được Chúa cứu trở nên con cái Ngài, đó đã là một phước hạnh vô cùng lớn rồi; nhưng chưa dừng lại ở đó, Đức Chúa Trời còn muốn ban cho  người thuộc về Ngài những phước hạnh lớn lao hơn, đó là được làm bạn với Ngài nữa.

Cách để làm bạn với Chúa, đó chính là vâng giữ, làm theo lời của Ngài!

Có Kinh Thánh là một chuyện, nhưng có đọc Kinh Thánh hay không lại là chuyện khác. Đọc Kinh Thánh là một chuyện, nhưng có vâng giữ, làm theo lời Chúa hay không cũng lại là chuyện khác nữa.

Tạ ơn Đức Chúa Trời, trong ơn thương xót của Ngài, tôi đã được Ngài ban cho sự cứu rỗi quý báu, và được làm con cái Ngài, khi tôi đặt đức tin nơi Đức Chúa Giê-su. Hơn thế nữa, Ngài còn cho tôi được phép làm bạn với Ngài nữa, vì tôi đã, đang tập tành từng bước làm theo lời Chúa dạy Kinh Thánh.

Thật không còn gì phước hạnh hơn cho tôi!

Bạn có muốn nhận được những phước hạnh lớn lao như thế không?

Ước ao bạn cũng sẽ sớm đến với Chúa Giê-su, và tin nhận Ngài để được làm con cái Ngài, và cũng được làm bạn với Ngài như tôi đã được làm bạn với Ngài vậy.

Làm bạn với con người, có nhiều khi bạn và tôi gặp phải những bạn bè không tốt, lợi dụng mình, hoặc tệ hơn là phản bội mình; nhưng làm bạn với Chúa Giê-su, bạn luôn được yên tâm, vì Ngài là Đấng không bao giờ thay đổi, và là Đấng thành tín, không bao giờ thất tín với bạn và tôi! Kinh Thánh cho biết rõ ràng rằng:

“nếu chúng ta không thành tín, song Ngài vẫn thành tín, vì Ngài không thể tự chối mình được.” (Sách II Ti-mô-thê, chương 2, câu 13)

Chúa Giê-su là người bạn tuyệt vời nhất trong tất cả mọi người bạn trên thế gian nầy cho bạn cũng như cho tôi!

Đó là điều chắc chắn!

Thành phố Stockton, tháng 7/ 2021

Nguyễn – Đình – Bùi – Thị

(*): Những câu Kinh Thánh trong bài viết là trích từ Kinh Thánh Bản Truyền Thống (BTT)

 

Đấng Cảm Thương

Dưỡng Linh: Ngọc Huỳnh Bích

“Vì chúng ta không có thầy tế lễ thượng phẩm chẳng có thể cảm thương sự yếu đuối chúng ta, bèn có một thầy tế lễ bị thử thách trong mọi việc cũng như chúng ta, song chẳng phạm tội.” – Hê-bơ-rơ 4:15

Những học giả Kinh Thánh đánh giá lời lẽ và nội dung của thư Hê-bơ-rơ như là, “sách Ê-sai của Tân Ước.” Theo từ ngữ trong thư Hê-bơ-rơ, chúng ta có thể biết thư này viết cho người Do-thái, vì thư nói đến “thầy tế lễ” rất nhiều. Sau khi Chúa Giê-su đã làm “sinh tế” chịu chết thay cho tội lỗi của loài người, thì chúng ta, những người tin Chúa, không còn phải dâng “của tế lễ” nữa. Đây cũng là mục đích chính của thư này; tác giả giải thích cho những tín hữu người Do Thái rằng việc dâng của tế lễ không còn cần thiết; mọi người cần ăn năn tội, thay đổi đời sống theo ý Chúa thì chắc được cứu bằng huyết của Đấng Christ.

Trong phần đầu của thư Hê-bơ-rơ, từ chương 1 đến chương 10:18, tác giả giãi bày về “giao ước mới, bởi người và việc của Đức Chúa Giê-su Christ được tỏ ra là cao trọng hơn hết.” Chúa Giê-su cao trọng hơn thiên sứ (chương 1-2); Ngài cao trọng hơn Môi-se (chương 3); và Chúa Giê-su là thầy tể thượng phẩm của giao-ước mới (chương 4). Hê-bơ-rơ 4:14 cho chúng ta biết rằng, “… chúng ta có thầy tế lễ thượng phẩm lớn đã trải qua các từng trời, tức là Đức Chúa Jêsus, Con Đức Chúa Trời…” Trong câu 15, tác giả giải thích về Thầy Tế Lễ Thượng Phẩm này, không phải là “… thầy tế lễ thượng phẩm chẳng có thể cảm thương sự yếu đuối chúng ta, bèn có một thầy tế lễ bị thử thách trong mọi việc cũng như chúng ta, song chẳng phạm tội.” Ở đây chúng ta học biết 3 điều quan trọng mà chỉ có Chúa Giê-su mới có, còn những thầy tế lễ khác không có, bởi vì họ là những con người đã phạm tội!

Thứ nhất, Chúa Giê-su là Đấng vô tội duy nhất trên trần gian! Dầu Ngài đã trãi qua nhiều cám dỗ, thử thách, nhưng Chúa luôn công bình, không phạm tội gì! “Ấy đó thật là thầy tế lễ thượng phẩm mà chúng ta có cần dùng, thánh khiết, không tội, không ô uế, biệt khỏi kẻ có tội, được cất lên cao hơn các từng trời: không như những thầy tế lễ thượng phẩm khác, cần phải hằng ngày dâng tế lễ, trước vì tội mình, sau vì tội dân; Ngài làm việc đó một lần thì đủ cả, mà dâng chính mình Ngài làm tế lễ” (Hê-bơ-rơ 7:26-27). Chỉ có Đấng thánh khiết, vô tội mới có thể cứu thế nhân là những người đầy tội lỗi! Thật không có đạo giáo nào mà có vị lãnh đạo vô tội cả! Làm người ai cũng phạm tội, “Thật, chẳng có người công bình ở trên đất làm điều thiện, mà không hề phạm tội” (Truyền-đạo 7:20); “vì mọi người đều đã phạm tội, thiếu mất sự vinh hiển của Đức Chúa Trời” (Rô-ma 3:23). “Kẻ nào phạm tội là thuộc về ma quỉ; vì ma quỉ phạm tội từ lúc ban đầu. Vả, Con Đức Chúa Trời đã hiện ra để hủy phá công việc của ma quỉ” (1 Giăng 3:8). Cà loài người đều là những tội nhân, không ai có thể tự cứu lấy chính mình, nói chi là cứu người khác khỏi sự chết linh hồn dưới Âm Phủ; như lời Chúa phán, “Ngoài ta chẳng có Đức Chúa Trời nào khác! chẳng có Đức Chúa Trời nào khác là công bình và là Cứu Chúa ngoài ta” (Ê-sai 45:21b). Sứ đồ Phao-lô đã giảng rằng, “Chẳng có sự cứu rỗi trong đấng nào khác; vì ở dưới trời, chẳng có danh nào khác ban cho loài người, để chúng ta phải nhờ đó mà được cứu” (Công-vụ các Sứ-đồ 4:12). Chỉ có Đấng vô tội, thánh khiết mới có thể cứu mọi người; vì thế chúng ta đừng uổn công mà đi tìm kiếm một ai khác, một đạo khác trên thế gian này để được cứu rỗi linh hồn!

Thứ hai, Chúa Giê-su “bị thử thách trong mọi việc cũng như chúng ta.” Ma-quỷ đã cám dỗ Chúa sau 40 ngày kiêng ăn, nhưng Chúa vẫn chiến thắng chúng bằng cách dùng Lời Chúa (Ma-thi-ơ 4:1-10). Chúa Giê-su đã chịu mọi sự đau đớn, khổ nhọc, sỉ nhục trên thế gian, như lời tiên tri Ê-sai bày tỏ, “Người đã bị người ta khinh dể và chán bỏ, từng trải sự buồn bực, biết sự đau ốm, bị khinh như kẻ mà người ta che mặt chẳng thèm xem; chúng ta cũng chẳng coi người ra gì. Thật người đã mang sự đau ốm của chúng ta, đã gánh sự buồn bực của chúng ta; mà chúng ta lại tưởng rằng người đã bị Đức Chúa Trời đánh và đập, và làm cho khốn khổ. Nhưng người đã vì tội lỗi chúng ta mà bị vết, vì sự gian ác chúng ta mà bị thương. Bởi sự sửa phạt người chịu chúng ta được bình an, bởi lằn roi người chúng ta được lành bịnh” (Ê-sai 53:3-5). Thêm vào đó, thử thách lớn nhất mà Chúa đã chịu đó là con đường Thập Tự Giá để chịu chết cho loài người tội lỗi (Ma-thi-ơ 26-27)! Tác giả Hê-bơ-rơ cho chúng ta biết rằng, “…Ngài phải chịu làm giống như anh em mình trong mọi sự, hầu cho đối với Đức Chúa Trời, trở nên thầy tế lễ thượng phẩm, hay thương xót và trung tín, đặng đền tội cho chúng dân. Vả, vì chính mình Ngài chịu khổ trong khi bị cám dỗ, nên có thể cứu những kẻ bị cám dỗ vậy” (Hê-bơ-rơ 2:17-18). Chúa Giê-su phải trãi qua mọi khổ đau, thử thách để làm trọn như một con người thế gian, hầu cho chúng ta tin Ngài đã chịu khổ, chịu chết vì tội lỗi đầy tràn của chúng ta; thì chúng ta được cứu khỏi sự chết đời đời dưới hỏa ngục!

Thứ ba, Chúa Giê-su cảm thương sự yếu đuối chúng ta. Chúa là Đấng toàn tri và Đấng yêu thương. Chúng ta là những con người rất yếu đuối, do đó Chúa Giê-su đã kêu gọi chúng ta, “Hãy tỉnh thức và cầu nguyện, để các ngươi khỏi sa vào chước cám dỗ; tâm thần thì muốn lắm, mà xác thịt thì yếu đuối” (Mác 14:38). Chúa yêu chúng ta vô điều kiện, như được bày tỏ trong Rô-ma 5:6, 8, “Thật vậy, khi chúng ta còn yếu đuối, Đấng Christ đã theo kỳ hẹn chịu chết vì kẻ có tội. …Nhưng Đức Chúa Trời tỏ lòng yêu thương Ngài đối với chúng ta, khi chúng ta còn là người có tội, thì Đấng Christ vì chúng ta chịu chết.” Chúa biết mọi sự và yêu thương chúng ta, mọi người. Sứ đồ Phao-lô cho chúng ta biết rằng việc giữ Luật Pháp cũng không cứu được con người, vì chính tội lỗi làm cho Luật Pháp ra yếu đuối, nhưng chính “… Đức Chúa Trời đã làm rồi: Ngài đã vì cớ tội lỗi sai chính Con mình lấy xác thịt giống như xác thịt tội lỗi chúng ta, và đã đoán phạt tội lỗi trong xác thịt” (Rô-ma 8:3). “Người đã bị vây trong sự yếu đuối, nên có thể thương xót những kẻ ngu dốt sai lầm” (Hê-bơ-rơ 5:2). Cũng như sứ đồ Phao-lô đã bắt chước Chúa, ông chân thành bày tỏ rằng ông là người yếu đuối, “Tôi ở yếu đuối với những người yếu đuối, hầu được những người yếu đuối; tôi đã trở nên mọi cách cho mọi người, để cứu chuộc được một vài người không cứ cách nào” (1 Cô-rinh-tô 9:22). Điều này dạy chúng ta, “Muốn hiểu và cảm thông người khác thì chúng ta phải đến gần họ; có trải nghiệm giống như họ thì mới thông cảm được, và mới biết cách giúp họ tìm biết Chúa.”

Cảm tạ Chúa Giê-su – Đấng thánh khiết, vô tội, đã xuống thế gian làm người, đã chịu mọi đau khổ, thử thách, cám dỗ,…, và cảm thương sự yếu đuối của chúng ta! Chính Chúa là Con Đường cứu rỗi duy nhất cho linh hồn con người trần gian! Nguyện xin Chúa Thánh Linh giúp chúng con sống biết ơn Chúa, hết lòng sống đẹp lòng Chúa, vinh hiển Danh Ngài, sống làm ánh sáng chiếu ra tình yêu đời đời của Ngài cho những người chung quanh biết được chỉ duy Chúa Giê-su là Con Đường duy nhất để đến nhận được sự sống đời đời trên Nước Trời! Amen!


Tạ ơn Chúa đã xuống trần thế,
Chịu chết, hy sinh, để cứu người,
Thánh khiết duy Ngài, vinh hiển bấy,
Cảm thương tất cả, khắp nơi nơi!
Hạ mình trước Chúa, và luôn sống,
Vâng phục đi theo, hết trọn đời,
Rao giảng Tin Lành, không nao núng,
Vui mừng, khen ngợi Chúa không ngơi!

Ngọc Huỳnh Bích

Chẳng Chuyển Lay

Dưỡng Linh: Ngọc Huỳnh Bích

“Hãy cầm giữ sự làm chứng về điều trông cậy chúng ta chẳng chuyển lay, vì Đấng đã hứa cùng chúng ta là thành tín.” – Hê-bơ-rơ 10:23

Là Cơ đốc Nhân, chúng ta chẳng những cần giữ vững đức tin vào Chúa Giê-su, mà còn phải làm chứng về những việc Chúa Giê-su đã làm trên đời sống của mình, cũng như chương trình cứu rỗi của Ngài cho những người chưa tin. Tác giả thư Hê-bơ-rơ khuyên những tín hữu Do Thái phải sống biết ơn Chúa vì Ngài đã chịu đóng đinh trên thập tự giá, huyết Chúa đổ ra để rửa sạch tội cho ai tin nhận Ngài. Thêm vào đó, con dân Chúa phải sống cuộc đời thay dổi từ trong lòng, sống làm theo Lời Chúa, làm sáng Danh ngài. Quan trọng nhất là phải thi hành Đại Mạng Lệnh của Chúa Giê-su, như được bày tỏ trong Mác 16:35, “Ngài phán cùng các sứ đồ rằng: Hãy đi khắp thế gian, giảng Tin Lành cho mọi người.”

Hê-bơ-rơ 10:23a là một lời khuyên cho con dân Chúa, “Hãy cầm giữ sự làm chứng về điều trông cậy chúng ta chẳng chuyển lay.” “Cầm giữ” là hành động có chủ động, kiên trì, là giữ vững “sự làm chứng về điều” mà chúng ta trông cậy; như sứ đồ Phao-lô nói trong 1 Cô-rinh-tô 15:1-2, “Hỡi anh em, tôi nhắc lại cho anh em Tin Lành mà tôi đã rao giảng và anh em đã nhận lấy, cùng đứng vững vàng trong đạo ấy, và nhờ đạo ấy, anh em được cứu rỗi, miễn là anh em giữ lấy y như tôi đã giảng cho; bằng không, thì anh em dầu có tin cũng vô ích.” Thái độ “chẳng chuyển lay” nói đến sự mạnh mẽ, vững vàng, không bị lay động bởi bất cứ đạo lý, khuynh hướng, hay hoàn cảnh nào; không ngã lòng trong sự bắt bớ. Khi đi làm chứng về Chúa, chắc chắn sự bắt bớ sẽ đến, như sứ đồ Phao-lô nói, “…hết thảy mọi người muốn sống cách nhân đức trong Đức Chúa Jêsus Christ, thì sẽ bị bắt bớ” (2 Ti-mô-thê 3:12), nhưng Đức Chúa Trời luôn bảo vệ con dân Ngài. Cám dỗ và thử thách sẽ có rất nhiều, nhưng Đức Chúa Trời sẽ mở ra một lối thoát; “Những sự cám dỗ đến cho anh em, chẳng có sự nào quá sức loài người. Đức Chúa Trời là thành tín, Ngài chẳng hề cho anh em bị cám dỗ quá sức mình đâu; nhưng trong sự cám dỗ, Ngài cũng mở đàng cho ra khỏi, để anh em có thể chịu được” (1 Cô-rinh-tô 10:13). Do đó, chúng ta vững lòng, bởi vì, “Đức Giê-hô-va là ánh sáng và là sự cứu rỗi tôi: Tôi sẽ sợ ai? Đức Giê-hô-va là đồn lũy của mạng sống tôi: Tôi sẽ hãi hùng ai” (Thi-thiên 27:1).

Tại sao chúng ta phải làm chứng về điều chúng ta trông cậy không chuyển lay? Sứ đồ Phao-lô khuyên, “hãy giảng đạo, cố khuyên, bất luận gặp thời hay không gặp thời, hãy đem lòng rất nhịn nhục mà bẻ trách, nài khuyên, sửa trị, cứ dạy dỗ chẳng thôi” (2 Ti-mô-thê 4:2). Có 3 lý do chính sau đây:

Thứ nhất là vì mọi người cần được cứu rỗi. Chúa không muốn bất cứ ai bị chết mất dưới Âm Phủ. “Chúa không chậm trễ về lời hứa của Ngài như mấy người kia tưởng đâu, nhưng Ngài lấy lòng nhịn nhục đối với anh em, không muốn cho một người nào chết mất, song muốn cho mọi người đều ăn năn” (2 Phi-e-rơ 3:9).

Thứ nhì là vì con người dễ bị dụ dỗ, họ thích nghe điều gì êm tai. Nếu chúng ta chậm trễ hay là nãn lòng, thì họ sẽ nghe theo đạo khác, như sứ đồ Phao-lô nói, “Vì sẽ có một thời kia, người ta không chịu nghe đạo lành; nhưng vì họ ham nghe những lời êm tai, theo tư dục mà nhóm họp các giáo sư xung quanh mình, bịt tai không nghe lẽ thật, mà xây hướng về chuyện huyễn. Nhưng con, phải có tiết độ trong mọi sự, hãy chịu cực khổ, làm việc của người giảng Tin Lành, mọi phận sự về chức vụ con phải làm cho đầy đủ” (2 Ti-mô-thê 4:3-5).

Thứ ba là vì Chúa Giê-su trở lại bất thình lình; “… ngày của Chúa sẽ đến như kẻ trộm trong ban đêm vậy” (1 Tê-sa-lô-ni-ca 5:2). Nếu chúng ta không làm chứng cho mọi người biết, thì có người sẽ không còn cơ hội để tin nhận Chúa. Thêm vào đó, Chúa sẽ không đẹp lòng và có thể chúng ta bị mất phần thưởng, “Hãy tỉnh thức, và làm cho vững sự còn lại, là sự hầu chết; vì ta không thấy công việc của ngươi là trọn vẹn trước mặt Đức Chúa Trời ta” (Khải-huyền 3:2); “Anh em hãy tỉnh thức, hãy vững vàng trong đức tin, hãy dốc chí trượng phu và mạnh mẽ” (1 Cô-rinh-tô 16:13).

Chúa là Đấng thành tín, chúng ta hãy vững tin vào những lời hứa của Ngài, “Đấng đã gọi anh em là thành tín, chính Ngài sẽ làm việc đó” (1 Tê-sa-lô-ni-ca 5:24); “Vả, nguyền Đấng có thể gìn giữ anh em khỏi vấp phạm và khiến anh em đứng trước mặt vinh hiển mình cách rất vui mừng, không chỗ trách được, là Đức Chúa Trời có một, là Cứu Chúa chúng ta, bởi Đức Chúa Jêsus Christ là Chúa chúng ta, được sự vinh hiển, tôn trọng, thế lực, quyền năng thuộc về Ngài từ trước vô cùng và hiện nay cho đến đời đời! A-men” (Giu-đe 24-25). Với đức tin chẳng chuyển lay, chúng ta “hãy tin cậy Đức Giê-hô-va, và làm điều lành; khá ở trong xứ, và nuôi mình bằng sự thành tín của Ngài” (Thi-thiên 37:3). Nguyện xin Đức Thánh Linh giúp chúng con vượt khỏi những thử thách, cám dỗ, và luôn trung tín, tin cậy Chúa hết lòng; xin Chúa thêm sức thêm ơn, giúp chúng con rao giảng Tin Lành cho mọi ngườ; xin Ngài mở lòng người nghe, cho họ biết và tin nhận Ngài! Amen!


Vững tin cầm giữ, điều trông cậy,
Truyền giảng Tin Lành, Ân Điển Ngài,
Đức Chúa Giê-su, là Lẽ Thật,
Đường Đi, Chân Lý, chẳng lung lay!
Duy Ngài thành tín, giữ lời hứa,
Xứng đáng trọn tin, những tháng ngày,
Hết sức hết lòng, không sờn ngã,
Giúp người tìm biết Chúa hôm nay!

Ngọc Huỳnh Bích

Theo Dấu Chân Chúa

Thơ: Tiểu Minh Ngọc

“Vậy Đức Chúa Jêsus đáp rằng: Ta là đường đi, lẽ thật, và sự sống; chẳng bởi ta thì không ai được đến cùng Cha.” – Giăng 14:6
“Tôi cũng coi hết thảy mọi sự như là sự lỗ, vì sự nhận biết Đức Chúa Jêsus Christ là quí hơn hết, Ngài là Chúa tôi, và tôi vì Ngài mà liều bỏ mọi điều lợi đó. Thật, tôi xem những điều đó như rơm rác, hầu cho được Đấng Christ” – Phi-líp 3:8

Khi xưa, chưa biết về Ngài,
Sống đời phóng túng, lạc sai con đường!
Nhưng nhờ Đấng Christ yêu thương,
Nhân từ dẫn đến Con Đường ăn năn,
Mở lòng tin nhận Chân Thần,
Nhờ quyền năng Thánh, ban ân phước nhiều!
Hết lòng kính Chúa, thương yêu,
Vui mừng theo Chúa sớm chiều bình an!
Dù đời đầy những gian nan,
Nhưng Ngài bảo vệ mọi đàng… sợ chi!
Khó khăn thêm vững bước đi,
Kiên trì, chịu đựng, chỉ vì Chúa thôi!
Thế gian tạm bợ dần trôi,
Nhưng tình yêu Chúa Ba Ngôi đời đời,
Ngài ban Kinh Thánh để đời,
Cho người học biết Ngôi Lời thánh thay!
Ta nên suy gẫm mỗi ngày,
Thực hành theo đúng ý Ngài dạy khuyên,
Ngợi khen Chúa vẫn y nguyên,
Theo Ngài ta được bình yên, thỏa lòng!

Tiểu Minh Ngọc

ƯỚC VỌNG LÊN CAO    

Thơ: Thanh Hữu

Chúng ta là người đang sống mà còn ở lại sẽ cùng được cất lên với những người ấy trong đám mây để gặp Chúa tại không trung, và chúng ta sẽ ở với Chúa mãi mãi. (1 Tê-sa-lô-ni-ca 4:17)

”Jeff Bezos”, một đại gia thế giới,
Muốn lên cao khỏi sức hút địa cầu.
Bằng phi thuyền, hỏa tiển chẳng bao lâu,
Khoản “mười phút”, rồi trở về trái đất.

Giá phải trả để lên cao thật đắt,
Chuyến đi về, ba mươi triệu mỹ kim.
Chỉ chờ xem thời gian ngắn thần tiên,
“Mất trong lực”, chút gần hơn thiên thể …

Cơ Đốc nhân, Chúa bao lần khích lệ,
Kính yêu Ngài sẽ được cất lên cao.
Không giàu sang, không tài sản lớn lao,
Bởi thương xót, bởi tình yêu cứu rỗi.

La-xa-rơ, vô gia cư nghèo khổ,
Nhưng hết lòng tin cậy Chúa quyền năng.
Khi lìa đời, lên cao chốn vĩnh hằng,
Thiên sứ rước, giữa trời hoa huyền nhiệm

Ông Ê-li, đã hai lần trải nghiệm,
Đến nước trời, xe ngựa lửa thiên cung.
Đã trở về trái đất cách lạ lùng,
Bên Cứu Chúa, núi hóa hình vinh hiển.

Chúa cứu ta, không cho ta phương tiện,
Lên cao chừng “trăm cây số” không gian.
Nhưng đem ta cao vút tận thiên đàng,
Không “mười phút”, nhưng đời đời vĩnh phúc.

Hãy kiên nhẫn, giữa cuộc đời vinh nhục,
Giữa nan đề, giữa thử thách vây quanh
Hãy nhìn lên, bao tinh tú trời xanh
Ngày nào đó, ta tham quan vũ trụ.

Ta chiêm ngưỡng ánh vinh quang tích tụ,
Bên ngôi trời đầy năng lực vô biên.
Nguồn yêu thương sông nước chảy triền miên,
Ta vui thỏa dòng Linh năng huyền nhiệm.

THANH HỮU
Tháng 7 năm 2021

 

[1] https://www.cnn.com/2021/06/10/tech/jeff-bezos-blue-origin-flight-risk-scn/index.html
[1] https://vietnamnet.vn/vn/the-gioi/chi-gan-30-trieu-usd-de-bay-cung-ty-phu-jeff-bezos-vao-vu-tru-745421.html
[1] 1 Tê-sa-lô-ni-ca 4:17
[1] Lu-ca 16:22
[1] 2 Các Vua 2:11
[1] Ma-thi-ơ 17:3
[1] https://www.bbc.com/news/world-us-canada-57386049
[1] Khải-huyền 22:1-2

“BI KỊCH TẠI CỔNG THIÊN ĐÀNG”

Thơ: Linh-Ân Nguyễn Thiện Nhân

———————

“Chẳng phải hễ những kẻ nói cùng Ta rằng: Lạy Chúa, lạy Chúa,

thì đều được vào nước thiên đàng đâu…Hỡi kẻ làm gian ác,

Ta chẳng biết các ngươi bao giờ, hãy lui ra khỏi Ta!” (Mathiơ 7:21-23)

 Tuần trước “Xem Trái Biết Cây”,

Đường Rộng, Đường Hẹp, Chiên Ngây, Sói Rừng”.

Chăm xem, nhận biết, dè chừng,

Dân Chúa quyết chẳng, dửng dưng tội đời.

Luật Chín “Hiến Chương Nước Trời”,

Tương Lai Bền Vững” Ngôi Lời chính quang.

Bi Kịch Tại Cổng Thiên Đàng”,

Theo Lời Kinh Thánh rõ ràng bạn ơi !

Lời kêu gọi…Chúa Trời Nhân Ái,

Không chỉ cho người ngoại thôi đâu ?!

Dẫu tình Chúa, mãi “Mặc Dầu”,

Nhưng lời kêu goị thâm sâu “Tín Đồ”.

Với Tín Nhân “Hữu Danh Vô Thực”,

Mô tả đây, nhận thức “Ba Điều”,

Sáu Điểm” từng cặp đối chiều,

Mở lòng suy gẫm, nhận nhiều phước ân.

  • TƯỞNG ĐƯỢCKHÔNG (c.21)

Kẻ miệng lưỡi, lập đi, lập lại,

Nói thì nhiều nhưng mãi chẳng làm,

Lạy Chúa để vào thiên đàng,

Nhưng nói phải có việc làm tiếp theo.

Miệng thờ phượng hò reo Danh Chúa,

Nhưng lòng đâu, thuận hứa, vâng lời,

Thành tín Chúa, chẳng đổi dời,

Làm theo ý Chúa, hưởng đời vĩnh sinh.

Chớ mang “Ảo Tưởng Thuộc Linh”.

Cổng Thiên Đàng mở thiếu mình bên trong !

  • TƯỞNG THẬTGIẢ (c.22)

Nhớ ngày đó mình tin theo Chúa…

Đã ăn năn, nguyện hứa biết bao…

Bạn ơi ! ngày đó ngày nào ?

Mười người Chúa chữa” còn bao nhiêu người ?!

Mình tín nhân, nào ai có biết ?

Mang danh chiên, có thiệt chiên lành ?

Tiên tri, thầy giả mạo danh…

Khâm sai Thiên Chúa, chữa lành tà ma ?!

Thật Giả sẽ lộ ra

  • TƯỞNG QUENLẠ (C.23)

Đến ngày diện kiến Thiên Nhan,

Bi Kịch Tại Cổng Thiên Đàng xảy ra.

Khi ấy hãy nghe lời Ta,

Hỡi kẻ độc ác, gian tà lui xa.

Ngươi thường luôn miệng lạy Cha,

Xin Chúa, lạy Chúa…lòng tà chẳng tin.

Ta biết rõ, kẻ cầu xin,

Người Công Bình sống, Đức Tin trọn tình.

Nếp Sống Đạo, Trái Thánh Linh,

Bởi lòng tin kính tất sinh vẹn toàn.

CỔNG THIÊN ĐÀNG , SẼ MỞ TOANG.

                                                   Linh-Ân Nguyễn Thiện Nhân

                                                                (Cảm tác.CN.6/27/2021)

CHUYỆN…ĐẾM

Văn: MS Nguyễn Đình Liễu

Kinh Thánh: Các quan xét 20: 16; Thi-thiên 56: 8; Ma-thi-ơ 10: 30, 31 (*)

Kính chào quý độc giả,

Đếm là một công việc mà không ai trong chúng ta không làm trong cuộc sống hằng ngày.

Hằng ngày, nhiều người trong chúng ta đều phải đếm.

Những người làm công tác kinh doanh thì phải đếm tiền sau mỗi một ngày làm ăn buôn bán để biết được lời lỗ ra sao mà tiếp tục có chiến lược cho công việc kinh doanh, buôn bán của mình.

Những học sinh, sinh viên đi học thì luôn đếm ngày tháng cho qua mau chóng hầu hoàn thành được chương trình học, để còn tiếp tục học lên được những chương trình cao hơn.

Những ai bị cảnh lao lý, tù tội thì lại càng luôn đếm ngày tháng để biết là mình còn bao nhiêu thời gian ở trong tù nữa, và chừng nào thì được ra tù về đoàn tụ với gia đình? Vì người ta nói “Một ngày tù nghìn thu ở ngoài” mà.

Những ai có hồ sơ chuẩn bị được bão lãnh đi Mỹ hay đi các nước văn minh Tây Phương thì cũng luôn mong ngóng bấm đốt ngón tay, đếm từng ngày cho hết thời gian chờ đợi để đến ngày lên máy bay đoàn tụ với người thân yêu đang mỏi mòn chờ đợi.

Người nông dân sau khi gieo hạt giống xuống đất rồi, cũng mong sao cho mưa thuận gió hòa, và đếm ngày tháng cho mau qua, hầu đến ngày thu hoạch sản vật mà mình đã gieo trồng cho thỏa lòng ước mong.

Những người lính chiến đấu nơi chiến trường cũng luôn mong mỏi thời gian mau qua, nên thường đếm ngày tháng cho mau hết, để có thể sớm được trở về với gia đình và người thân.

Còn nhớ cách đây 42 năm, vào mùa Thu năm 1979, tôi rời gia đình cùng bạn bè và người thân lên đường cầm súng xa nhà đi chiến đấu tận bên xứ sở chùa tháp Cam-pu-chia. Lúc bấy giờ, tôi mới hơn 18 tuổi đầu, mới đi thi Đại Học về và vừa bỏ chiếc áo thư sinh ra. Mặt còn…búng ra sữa, nhưng theo lệnh nhà cầm quyền, tôi và nhiều thanh niên khác phải lên đường vào lính xa nhà ra trận. Khi chúng tôi đi, người ta khoác lên cho chúng tôi một danh hiệu rất kêu “Quân tình nguyện Việt Nam làm nghĩa vụ quốc tế”. Có ai trong chúng tôi tình nguyện gì đâu, nhiều người còn trốn chạy khỏi địa phương để khỏi đi lính cơ mà, chứ ở đó mà…tình với nguyện. Thật đúng là mị dân!

Ngay khi đặt chân xuống sân bay Siêm Riệp của đất nước Cam-pu-chia, chúng tôi đã chứng kiến cảnh tượng đầu lâu, xương sọ lăn lóc ở nhiều nơi mà trong lòng rùng mình, khiếp đảm.

Thế là lần đầu tiên trong đời, tôi được…xuất ngoại bất đắc dĩ. Tôi cùng những đồng đội của tôi được đưa đến một vùng rừng núi xa xôi của Cam-pu-chia để đóng quân tại đó và thực hiện nhiệm vụ của một người lính theo lệnh của nhà cầm quyền.

Gần năm năm trời dài đằng đẵng, tôi làm lính chiến đấu trên đất nước Cam-pu-chia. Không ngày nào mà những người lính như chúng tôi không nghe tiếng súng nổ, không ngày nào mà chúng tôi không đối diện với hiểm nguy, chết chóc. Lính chiến mà! Lúc ấy, với những người lính chiến đấu như chúng tôi, ai nấy đều chỉ biết sống cho hôm nay, chứ không nghĩ gì đến ngày mai, vì ngày mai không biết có còn đến với mình hay không? Sự sống của những người lính chiến như nghìn cân treo sợi tóc, rất mong manh. Sống chết lúc nào không hay. Một ai đó đã nói: “Đắc nhất nhật quá nhất nhật. Đắc nhất thì quá nhất thì” (Được một ngày qua một ngày. Được một giờ qua một giờ) thật đúng với tâm trạng của người lính chiến nơi sa trường. Khi ở trong chiến trường, chúng tôi thường quan niệm rằng: Đạn pháo của kẻ địch bắn chưa chắc đã trúng…đơn vị mình, nếu có trúng vào đơn vị mình thì chưa chắc đã…trúng mình. Nếu có trúng mình thì chưa chắc…bị thương. Nếu có bị thương thì cũng chưa chắc …bị thương nặng. Nếu bị thương nặng thì chưa chắc đã…chết. Cứ thế và cứ thế mà lấy hy vọng để sống trong suốt thời gian quân ngũ tại một chiến trường ác liệt.

Có thể nói thời gian năm năm làm lính chiến đấu tại chiến trường Cam-pu-chia là khoảng thời gian mà tôi thấy lâu nhất trong cuộc đời hơn 60 năm của tôi cho đến hôm nay. Không ngày nào là anh em lính chiến chúng tôi không đếm từng giờ, từng ngày, từng tháng, mong mỏi cho sớm hết thời gian quân ngũ để về với gia đình, và thoát cảnh chết chóc.

Chưa bao giờ tôi thấy câu Kinh Thánh: “Cầu xin Chúa dạy chúng tôi biết đếm các ngày chúng tôi…” (Sách Thi-thiên, chương 90, câu 12) có ý nghĩa sâu xa và giá trị như lúc bấy giờ.

Không thể nào quên được cái ngày mà chúng tôi được giải ngũ, giã từ vũ khí để rời đất nước Cam-pu-chia trở về đất mẹ Việt Nam thân yêu của mình. Chúng tôi hát ca cả đêm với những bài nhạc vàng sâu lắng và đầy tình cảm, để rồi sáng hôm sau lên đường về Việt Nam với cả một niềm hân hoan, vui sướng tột độ.

Cho đến bây giờ, dù đã 42 năm trôi qua rồi, nhưng lòng tôi vẫn không quên được những ngày làm lính chiến đấu đầy ác liệt tại chiến trường Cam-pu-chia. Biết bao nhiêu đồng đội của tôi đã bỏ mạng tại xứ người, không ít người trở thành tàn phế bởi chiến tranh. Thương làm sao những con người ấy! Có những cái chết của đồng đội tôi đến bây giờ vẫn còn ghi nhớ trong tôi, không thể nào quên được, như cái chết của D, của Ph, của L…

Nhưng cảm tạ Đức Chúa Trời đã thương xót tôi và cho tôi được trở về trong bình an, lành lặn. Người xưa đã nói rất chí lý: “Cổ lai chinh chiến kỷ nhân hồi” (Xưa nay mấy ai đi lính mà trở về – Thơ của Vương Hàn, thời nhà Đường bên Trung Quốc). Tôi và một số đồng đội tôi còn sống được và trở về, đó là một may mắn và hạnh phúc lớn làm sao!

Con người chúng ta thường hay đếm là như vậy, vì con người chúng ta hữu hạn và chóng qua!

Kinh Thánh có nói đến việc Đức Chúa Trời đếm. Ngài là Đấng vô hạn và đời đời, sao Ngài cũng đếm giống như con người hữu hạn chúng ta?

Xin mời bạn cùng xem cách Đức Chúa Trời đếm có khác  với con người chúng ta hay không nhé.

Trong sách Thi-thiên, có chép: “Chúa đếm các bước đi qua đi lại của tôi. Xin Chúa để nước mắt tôi trong ve của Chúa. Nước mắt tôi há chẳng được ghi vào sổ Chúa sao?” (Sách Thi-thiên, chương 56, câu 8)

Ở đây, tác giả bài thơ nầy là vua Đa-vít, khi ông đang bị kẻ thù tấn công, phá hoại, ông đã cầu khẩn với Chúa đề xin Ngài cứu giúp. Ông đã để lòng tin cậy nơi Đức Chúa Trời thay vì để tâm trí nhìn vào kẻ thù. Cho nên lòng ông được bình an. Và trong tinh thần đó, Đa-vít nói: “Chúa đếm các bước đi qua đi lại của tôi.” Có nghĩa là, ông vững tin nơi Đức Chúa Trời là Đấng luôn quan tâm, chăm sóc ông một cách rất cụ thể, chứ không chung chung, đến nỗi Ngài đếm đến từng bước chân ông đi luôn.

Ngay cả bản thân Đa-vít, chắc ông cũng không thể làm được việc “đếm các bước chân mình đi” (cũng không ai trong vòng con cái loài người có thể làm được việc đó); nhưng ông tin Chúa của ông là Đấng ông đang tin cậy và thờ phượng thì khác, Ngài hoàn toàn có thể làm được việc đó cách dễ dàng, vì Ngài là Đấng “vô sở bất năng”, tức là Đấng toàn năng.

Chúa đếm ở đây không phải là Ngài đếm cho Ngài, mà Ngài đếm cho chúng ta, cho những người thuộc về Ngài.

Sự quan phòng của Ngài đối với con cái Ngài thật là tuyệt vời!

Một chỗ khác  trong Kinh Thánh cũng nói đến việc…Chúa đếm:

“Tóc trên đầu các ngươi cũng đã đếm hết rồi. Vậy, đừng sợ chi hết, vì các ngươi quý trọng hơn nhiều con chim sẻ” (Sách Ma-thi-ơ, chương 10, câu 30, 31)

Đếm tóc trên đầu là chuyện bất khả thi đối với con người, vì tóc nhiều vô số đếm làm sao được?

Nói chuyện…đếm tóc, bỗng nhớ đến chuyện chi phái Bên-gia-min của người Do-thái ngày xưa, họ có đến bảy trăm người tinh binh thuận tay tả, và có biệt tài: “Hết thảy những kẻ đó có tài dùng trành ném đá trúng một sợi tóc, mà chẳng hề sai trật.” (Sách Các quan xét, chương 20, câu 16). Không phải chỉ một vài người có biệt tài, mà có đến cả bảy trăm người như thế!

Thật đáng nể phải không bạn?

Nhưng họ chỉ có biệt tài dùng trành ném đá ném trúng sợi tóc mà thôi, chứ họ không thể nào đếm được tóc trên đầu của họ hoặc trên đầu một con người nào.

Người ta cho biết, tóc trên đầu của con người thường có ước chừng trên dưới 100. 000 sợi.

Có những câu ca dao hay nói về…tóc như sau:

+ Tóc em không bới thì cài

Em cứ gỡ hoài, bối rối dạ anh

+ Ngó lên đầu tóc em tròn

Hàm răng em trắng, miệng cười giòn, anh mê.

+ Thương nhau cắt tóc mà thề

Khó nghèo cũng chịu, chớ hề bỏ nhau

+ Tóc em dài em cài hoa lý

Thấy miệng em cười hữu ý anh thương

Nhưng chính Chúa Giê-su đã phán rằng ngay cả tóc trên đầu của con cái Ngài, tức những người tin Ngài thì Ngài cũng đã đếm cả rồi. Điều nầy nói lên sự quan tâm, chăm sóc đặc biệt của Chúa dành cho người tin Ngài.

Chuyện…đếm của Đức Chúa Trời thật đặc biệt phải không bạn?

Ở dưới chân, Ngài đếm các bước đi qua đi lại của mỗi một con dân Ngài.

Ở trên đầu, Ngài đếm từng sợi tóc của mỗi một chúng ta là những người thuộc về Ngài.

Như vậy, từ bàn chân cho đến đỉnh đầu của mỗi chúng ta, Đức Chúa Trời đều quan tâm, chăm sóc một cách đặc biệt, đến từng chi tiết nhỏ li li trong đời sống  của chúng ta.

Với một sự quan phòng đặc biệt như thế của Ngài dành cho người thuộc về Ngài, thì có gì chúng ta còn phải lo sợ khi được ở trong Ngài?

Tạ ơn Đức Chúa Trời về sự quan phòng kỳ diệu của Ngài dành cho bạn, dành cho tôi, và dành cho mỗi một chúng ta!

Tôi đã được ở trong Ngài bao nhiêu năm qua, và tôi đã kinh nghiệm được sự quan phòng độc đáo của Ngài trên đời sống  mình. Từ khi còn nhỏ đi học, đến khi vào lính chinh chiến nơi sa trường đầy hiểm nguy; rồi đến khi rời quân ngũ trở về, đi học Sư Phạm ra làm nghề dạy học. Sau một thời gian làm thầy giáo, tôi nghỉ làm nghề dạy học để đi học Kinh Thánh ra làm Mục Sư chăn bầy chiên của Chúa, rồi đến khi bước ra mở Hội Thánh  mới cho Ngài. Sau đó, được Chúa đưa qua Mỹ để học thêm lời Chúa và hầu việc Ngài, từ Nam California đến Bắc California cho đến tận bây giờ. Từ khi còn tấm bé đến bây giờ đã ngoài 60 tuổi. Từ khi đi học cho đến bây giờ làm một Mục Sư đề hầu việc Ngài. Từ khi còn độc thân, cho đến khi lập gia đình có con cái, và cho đến bây giờ đã trở thành ông nội của…gần ba đứa cháu. Từ khi còn ở Việt Nam cho đến bây giờ đang ở Mỹ, tôi thấy Đức Chúa Trời đã thương yêu, quan phòng, chăm sóc tôi từng hồi từng lúc một cách tuyệt diệu theo cách của Ngài dành cho tôi, chứ không theo cách tôi suy nghĩ.

Tôi chỉ biết nói lời cảm tạ Chúa vì sự thương xót lớn lao của Ngài đã dành cho tôi, dầu tôi còn nhiều yếu đuối, bất toàn, chẳng xứng đáng để được Ngài thương xót và ban ơn như thế.

Đức Chúa Trời quả thật tuyệt vời và không ai tuyệt vời như Ngài cả!

Tôi ước ao ngày càng có nhiều người Việt Nam yêu dấu của tôi cũng được biết đến Đức Chúa Trời là Đấng quan phòng, chăm sóc độc đáo nhất (Ngài đếm từng bước đi dưới chân của chúng ta. Ngài đếm từng sợi tóc trên đầu của chúng ta), hầu sớm đến với Chúa Giê-su mở lòng ra tin nhận Ngài để được làm con cái Ngài như tôi, và kinh nghiệm được sự quan phòng của Ngài như tôi đã kinh nghiệm.

Chắc chắn không còn gì phước hạnh hơn khi được ở trong Ngài, ở trong sự chăm sóc,bảo vệ của Ngài!

Nguyện Đức Chúa Trời ban phước cho bạn cũng như Ngài đã ban phước cho tôi vậy!

Tháng 7/ 2021

Nguyễn-Đình-Bùi-Thị.

 

(*): Những câu Kinh Thánh trong bài viết là trích từ Kinh Thánh Bản Truyền Thống (BTT)

XIN CHÚA CHO CON HƯỚNG TRÊN TRỜI

Thơ: Bình Tú Ngọc

(Kính tặng Đại Hội Baptist lần thứ 36 tại Texas, và thân tặng vợ chồng Nhà Thơ Tiểu Minh Ngọc!)

Đại Hội ba sáu được diễn ra (1)
Phước hạnh từ Cha cứ chan hòa
Kẻ gần, người xa đều hăm hở
Lên đường thẳng tiến đến…Texas…

Con không đi được Đại Hội nầy
Lòng cứ xốn xang, khó chịu thay
Ở nhà xem qua internet
Cảm tạ, A men mấy bữa rày…

Chúa cho chương trình thật sít sao
Bồi linh, hội thảo thật dồi dào
Lời Chúa rao ra cùng… trái đất
Gội nhuần ơn phước từ trên cao…

Cảm động khi dự lễ trao bằng
Cho các sinh viên đã nổ năng
Miệt mài học hỏi lời Cha Thánh
Thêm con gặt vào đồng lúa vàng…

Vui nhất khi thấy hai vợ chồng (2)
Đồng lòng cùng học và cùng xong
Cầm bằng lòng vui không thể tả
Ơn Chúa dồi dào kẻ ngóng trông…

Nguyện Chúa ban phước cho Hội Đồng
Thời gian còn lại thỏa ước mong
Thuộc linh, thuộc thể đều dư dật
Sức mới càng thêm, càng thêm ơn…

Xin Chúa cho con hướng trên trời (3)
Quên lững mọi sự đàng sau thôi
Nhắm hướng Thiên đàng mà giựt giải
Nhìn Chúa Giê-su mãi không rời…

Hỡi ai còn đang mải mê đời
Còn đang giữa ngã ba chơi vơi
Hãy chọn Giê-su là Chân Lý
Vũng bước theo Ngài được thảnh thơi…

Tháng 7/ 2021
Bình Tú Ngọc

(1): Đại Hội Liên Hữu Baptist Việt Nam Bắc Mỹ lần thứ 36 tại Texas, từ ngày 01-04/ 2021
(2): Vợ chồng Nhà Thơ Tiểu Minh Ngọc và anh Minh Huỳnh
(3): Theo ý trong sách Phi-líp, chương 3, câu 14, là câu gốc chủ đề của Đại Hội 36

CHUYỆN…HÀ TIỆN

Văn: MS Nguyễn Đình Liễu

Kinh Thánh: II Sa-mu-ên 12: 1-6; Lu-ca 12: 13-21 (*)

Kính chào quý độc giả,

Hà tiện là một trong những tính cách xấu, đáng ghét mà ta thường thấy nơi con người.

Hà tiện có nghĩa là khư khư giữ của, không dám tiêu xài, dù tiêu xài cho những nhu cầu chính đáng của bản thân. Hà tiện cũng đồng nghĩa với keo kiệt, bủn xỉn, chắt bóp…

Nếu tiết kiệm là một tính tốt, thì hà tiện là một tính xấu. Vì tiết kiệm là biết chi tiêu cách hợp lý, còn dành dụm lại để phòng cho những lúc khó khăn, hoặc để giúp đỡ cho người nghèo khó quanh mình. Còn hà tiện là không dám chi tiêu, dù là hợp lý, chỉ muốn khư khư giữ của, làm sao cho có thêm nhiều tiền bạc cho mình là…hạnh phúc.

Người hào phóng, rộng rãi đáng yêu bao nhiêu, thì người hà tiện đáng ghét bấy nhiêu.

Nói về tính hà tiện, keo kiệt, thì tục ngữ, ca dao Việt Nam có nhiều câu nhắc đến:

Về tục ngữ chỉ sự hà tiện thì có những câu như:

+ Rán sành ra mỡ

+ Vắt cổ chày ra nước

+ Ăn mắm mút giòi

+ Ăn nhín nhịn thèm

+ Ăn cháo để gạo cho vay

+ Ở xởi lởi, Trời gởi cho. Ở bo bo, Trời lấy lại

Còn cao dao thì có những câu:

+ Của mình thì giữ bo bo

Của người thì lại lấy mo mà đùm

+ Hà tiện mà ăn cháo hoa

Đồng đường, đồng đậu cũng ra ba đồng

Trong văn chương, người ta cũng nói đến nhiều về tính hà tiện đáng ghét của con người.

Chắc hẳn, nhiều người trong chúng ta đều biết đến vở hài kịch “Lão hà tiện” của kịch tác gia vĩ đại của người Pháp là Molière.

Câu chuyện có thể được tóm lược như sau:

“Harpagon là một người  giàu có, goá vợ, có một con trai tên là Cleante và một con gái tên Elise.

Ông ta có một hộp đựng nhiều tiền được chôn giấu trong vườn. Do đó, ông ta nghi ngờ cả con cái  trong gia đình, vì ông ta sợ họ trộm cái hộp của mình. Ông ta dè sẻn từng đồng bạc cắt  trong mọi chi phí gia đình. Sự ngờ vực cộng với sự keo kiệt của ông ta làm cả người giúp việc  lẫn con cái trong nhà ngày càng ghét ông ta. Ngay cả trong chuyện hôn nhân của con cái, ông ta cũng tính toán để có lợi cho mình. Ông ta định gả con gái cho một lão già lắm của, và gả con trai cho một mụ đàn bà goá lắm tiền, vì họ không đòi của hồi môn. Trong khi đó, con trai ông ta đang yêu nàng Marian và cũng chính là người mà ông  đang yêu; và vô tình cả hai cha con đều trở thành tình địch của nhau. Cả hai người con đều phải đấu tranh và tìm mọi cách bảo vệ tình yêu của mình. Nhờ sự giúp đỡ của Fleche-đầy tớ của Cleante, anh đã lấy được cái hộp tiền và lấy nó ra làm vật trao đổi với cha  về tình yêu. Harpagon phải đành lòng chấp nhận chuyện hôn nhân của con trai, và đánh đổi cả tình yêu của mình để lấy lại được cái hộp tiền. Trong khi mọi người đều vui vẻ trong niềm hạnh phúc, thì hạnh phúc to lớn và duy nhất đối với ông ta là cái hộp  tiền vàng. Cho đến cuối cùng, tính hám vàng, ham tiền vẫn nguyên vẹn, không gì có thể thay đổi được sự tham lam về mặt vật chất, bản chất hà tiện trong con người của Harpagon.”

Harpagon thật…xứng đáng là một nhân vật hà tiện điển hình.

Trong văn chương Việt Nam, ta cũng được nghe  khá nhiều câu chuyện cười lên án  tính hà tiện, keo kiệt, mà một trong những câu chuyện…nổi tiếng nhất là câu chuyện sau:

“Ngày xửa ngày xưa có một lão nhà giàu hà tiện. Trong một lần đi đò qua sông, khi đến giữa sông, lão ta khát nước, muốn uống nước, nhưng sợ mua nước tốn tiền, nên lão ta cúi đầu xuống sông uống nước, chẳng may ngã lộn cổ xuống sông, lão ta lại không biết bơi. Người lái đò vội vàng đến cứu. Mặc dù đang sắp bị chết đuối, nhưng lão ta lại sợ để anh lái đò cứu mình lên thì sẽ phải trả tiền. Thế là lão hà tiện vội nói: Anh cứu ta thế này, ta có phải trả tiền không? Biết tính lão này hà tiện, người lái đò nói: Có chứ! Lão hà tiện nói: Anh lấy bao nhiêu? Người lái đò: 8 quan tiền. Lão hà tiện: 8 quan đắt quá, bớt đi. Người lái đò: 7 quan. Lão hà tiện: 7 quan vẫn đắt, bớt nữa đi. Người lái đò: Vậy 5 quan. Lão hà tiện: 5 quan cũng vẫn còn quá đắt, tôi thà chết còn hơn.

Nói xong, lão hà tiện chìm nghỉm xuống sông.” (**)

Tuy là chuyện cười, nhưng ngẫm ra trong cuộc sống không phải là không có những con người có lối sống hà tiện, keo kiệt như lão nhà giàu trong câu chuyện trên phải không bạn?

Nhà Thơ Nguyễn Khuyến của Việt Nam cũng có bài thơ lên án tính hà tiện, keo kiệt mà nhiều người yêu văn thơ đều biết. Đó là bài thơ “Hỏi thăm quan Tuần mất cướp”:

Tôi nghe kẻ cướp nó lèn ông,
Nó lại lôi ông đến giữa đồng.
Lấy của đánh người, quân tệ nhỉ!
Thân già da cóc, có đau không?
Bây giờ đã trót sầy da trán,
Ngày trước đi đâu mất mảy lông.
Thôi cũng đừng nên ky cóp nữa.
Kẻo mang tiếng dại với phường ngông!

Người…được  Nhà Thơ nhắc đến trong bài thơ nầy là  ông Tuần phủ Đích là bạn học với Nhà Thơ.  Ông Đích vốn là người có tính keo kiệt bủn xỉn với bạn bè. Về sau ông Đích được bổ làm Ngự sử ở Kinh. Lúc về hưu, ông Đích chỉ lo làm giàu, rồi bị kẻ cướp cướp đồ đạc, lại còn lôi ra giữa đồng đánh cho mình mẩy bị thương tích nặng nề.

Nhà Thơ cho biết,  người hà tiện là người…dại dột!

Kinh Thánh cũng lên án tính hà tiện, keo kiệt nơi con người.

Trong sách II Sa-mu-ên, chương 12, từ câu 1-6 chép lại một câu chuyện hà tiện nổi tiếng:

“Đức Giê-hô-va sai Na-than đến cùng Đa-vít. Vậy, Na-than đến cùng người mà rằng: Trong một thành kia có hai người, người nầy giàu, còn người kia nghèo. Người giàu có chiên bò rất nhiều; nhưng người nghèo, nếu chẳng kể một con chiên cái nhỏ mà người đã mua, thì chẳng có gì hết. Người nuôi nó; nó cùng lớn lên với con cái người tại nhà người, ăn đồ người ăn, uống đồ người uống, và ngủ trên lòng người; nó như một con gái của người vậy. Vả, có người khách đến người giàu; người giàu tiếc không muốn đụng đến chiên bò của mình đặng dọn một bữa ăn cho người khách đã đến, bèn bắt con chiên con của người nghèo và dọn cho kẻ khách đã đến thăm mình. Đa-vít bèn nổi giận lắm cùng người ấy, và nói cùng Na-than rằng: Ta chỉ Đức Giê-hô-va hằng sống mà thề, người đã phạm điều ấy thật đáng chết! Hắn phải thường bốn lần giá chiên con, vì đã làm như vậy, và vì không có lòng thương xót.”

Sau khi vua Đa-vít phạm tội tà dâm và tội sát nhân với Bát-sê-ba và chồng của bà là U-ri, thì Đức Chúa Trời sai Tiên Tri Na-than đến để…vạch tội vua. Trước khi…vạch tội vua, thì người của Đức Chúa Trời đã kể câu chuyện hà tiện ấy. Vua Đa-vít nghe xong liền tức giận, và…xử rằng, người phạm tội như thế thật đáng chết, vì không có lòng thương xót. Sau khi nghe vua…tuyên án như vậy rồi, thì Tiên Tri Na-than mới cho biết người phạm tội dường ấy không ai khác  hơn chính là…vua.

Đa-vít là vị vua kính sợ Đức Chúa Trời, cho nên khi nghe Tiên Tri Na-than…vạch tội mình, thì ông không những không…chém đầu Na-than, mà ông đã biết ăn năn tội trước mặt Đức Chúa Trời.

Kinh Thánh chép: “Đa-vít bèn nói cùng Na-than rằng: Ta đã phạm tội cùng Đức Giê-hô-va. Na-than đáp cùng Đa-vít rằng: Đức Giê-hô-va cũng đã xóa tội vua; vua không chết đâu.” (Sách II Sa-mu-ên, chương 12, câu 13)

Qua câu chuyện trên, ta thấy Kinh Thánh cho biết người  hà tiện, keo kiệt là người tiếc của cải của mình mà không tiếc của cải của người khác. Người hà tiện là người không có lòng thương xót.

Đó là câu chuyện hà tiện ở Cựu Ước.

Trong Tân Ước, chính Chúa Giê-su cũng đã kể câu chuyện về sự hà tiện đáng nhớ như sau:

“Bấy giờ, một người giữa dân chúng thưa rằng: Thưa thầy, xin biểu anh tôi chia gia tài cho tôi. Nhưng Đức Chúa Jêsus đáp rằng: Hỡi người kia, ai đặt ta làm quan xử kiện hay là chia của cho các ngươi?  Đoạn, Ngài phán cùng chúng rằng: Hãy giữ cẩn thận chớ hà tiện gì hết; vì sự sống của người ta không phải cốt tại của cải mình dư dật đâu. Ngài lại phán cùng chúng lời ví dụ nầy: Ruộng của một người giàu kia sinh lợi nhiều lắm, người bèn tự nghĩ rằng: Ta phải làm thể nào? Vì không có đủ chỗ chứa hết sản vật. Lại nói: Nầy, việc ta sẽ làm: ta phá cả kho tàng và cất cái khác lớn hơn, thâu trữ sản vật và gia tài vào đó; rồi sẽ nói với linh hồn ta rằng: Linh hồn ơi, mầy đã được nhiều của để dành dùng lâu năm; thôi, hãy nghỉ, ăn uống, và vui vẻ. Song Đức Chúa Trời phán cùng người rằng: Hỡi kẻ dại! Chính đêm nay linh hồn ngươi sẽ bị đòi lại; vậy những của cải ngươi đã sắm sẵn sẽ thuộc về ai? Hễ ai thâu trữ của cho mình mà không giàu có nơi Đức Chúa Trời thì cũng như vậy.” (Sách Lu-ca, chương 12, từ câu 13-21)

Qua câu chuyện, Chúa Giê-su cho biết sự hà tiện không đem lại sự sống cho con người được. Người hà tiện là người chỉ biết nghĩ đến bản thân mình, sống ích kỷ cho bản thân, cho những dục vọng thấp hèn của mình, mà không hề quan tâm đến người khác, không quan tâm đến sự cứu rỗi linh hồn.  Và Chúa Giê-su kết luận: Người hà tiện như thế là người dại.

Sứ Đồ Giăng cũng lên án tính hà tiện:

“Nếu ai có của cải đời nầy, thấy anh em mình đương cùng túng mà chặt dạ, thì lòng yêu mến Đức Chúa Trời thể nào ở trong người ấy được.” ( Sách I Giăng, chương 3, câu 17)

Người hà tiện là người chặt dạ, có nghĩa là không có lòng rộng rãi. Người chặt dạ, người không có lòng rộng rãi thì không có lòng yêu mến Đức Chúa Trời thật sự ở trong họ.

Đức Chúa Trời ban cho con người chúng ta sự sống và mọi vật trong thế giới nầy để chúng ta được hưởng, miễn là chúng ta biết ơn Ngài và đem lòng tôn thờ Ngài.

Nếu chúng ta chỉ lo nghĩ đến bản thân mình, sống hà tiện, ích kỷ, không quan tâm đến người còn nghèo khó chung quanh; đặc biệt là không quan tâm đến sự cứu rỗi linh hồn, thì Kinh Thánh khẳng định, đó là người dại dột. Người hà tiện sẽ sống một đời sống khổ sở, dù có nhiều tiền bạc, và rồi sẽ chết đớn đau trong hỏa ngục đời đời, nếu không tin nhận Chúa Giê-su làm Chúa, làm Chủ đời sống  mình.

Nguyện xin Chúa thương xót, giúp đỡ cho bạn và tôi thoát được lối sống hà tiện, keo kiệt trong cuộc đời của mình, và biết sống hào phóng, rộng rãi với người, nhất là sống với lòng biết ơn Đức Chúa Trời là Đấng đã ban cho  bạn và tôi mọi điều trong cuộc đời nầy để hưởng. A men!

Tháng 7/ 2021

Mục Sư Nguyễn – Đình – Liễu.

 

(*) Những câu Kinh Thánh trong bài viết là trích từ Kinh Thánh Bản Thống (BTT)

(**): Trích từ “truyendangian.com”