ĐỂ ĐƯỢC BÌNH YÊN, KHÔNG SỢ HÃI

Thơ: Bình Tú Ngọc

Côvid nhỏ xíu chẳng thấy gì (1)
Cứ tưởng chẳng nên trò trống chi
Nào ngờ…mọc cánh bay đi khắp
Tung chưởng bao người gục ngã đi…

Xuất phát từ Tàu, bay khắp nơi
Mỹ, Anh, Ý, Pháp, Ấn… rối bời
Năm châu, bốn biển đều kinh hãi
Cô nầy sao…ác quá đi thôi?..

Việt Nam tôi nay cũng vì cô
Cả nước hiện nay đang nháo nhào
Sài Gòn hoa lệ đông đúc thế
Giờ đây vắng vẻ, chẳng tiếng rao…

Rau củ, sắn khoai với bánh mì
Những thứ khi no, đâu cần chi
Nào ngờ, giờ đây đang phong tỏa
Trở thành thiết yếu hơn mọi khi…

Có chuyện tưởng không thể xảy ra
Nhưng nó xảy ra rất thật mà
Như chuyện Covid năm Mười Chín
Làm như điên loạn khắp sơn hà…

Tương lai còn nhiều chuyện…ngoài tầm (2)
Ngày Chúa Giê-su sắp tái lâm
Dịch lệ, tai ương còn nhiều nữa
Hãy lo tỉnh ngộ và hồi tâm…

Để được bình yên, không sợ hãi (3)
Tin Chúa Giê-su, Con Chúa Trời
Lòng được thỏa vui và hy vọng
Qua đời, hưởng sự sống đời đời…

Tháng 7/ 2021
Bình Tú Ngọc

(1): Covid-19 (tức bệnh Cúm Tàu, khởi phát từ thành phố Vũ Hán, Trung Quốc vào tháng 12/ 2019 và lan rộng và nhanh khắp thế giới, cho đến nay vẫn còn đe dọa nhiều nước như Indonesia, Việt Nam…)
(2): Theo ý trong sách Ma-thi-ơ chương 24
(3): Theo ý trong sách Giăng, chương 14, câu 1-4

HƯỚNG ĐẾN MỤC ĐÍCH

Thơ: Tiểu Minh Ngọc

“Nhưng tôi cứ làm một điều: quên lửng sự ở đằng sau, mà bươn theo sự ở đằng trước, tôi nhắm mục đích mà chạy, để giựt giải về sự kêu gọi trên trời của Đức Chúa Trời trong Đức Chúa Jêsus Christ” – Phi-líp 3:14

Tôi sinh ra giữa rừng người,
Thế gian hổn độn nói cười chê bai,
Bao năm có bấy đổi thay,
Sống trong lầm lạc… đến ngày biết Cha!
Mở lòng, xin Chúa thứ tha,
Ăn năn tội lỗi xấu xa bao lần…
Chúa thương, kêu gọi, đến gần,
Vòng tay tha thiết, đầy ân tình Trời!
Nhờ Giê-su Christ đời đời,
Huyết Ngài rữa sạch tội người trần gian,
Bây giờ tôi được bình an,
Quyết tâm theo Chúa, gian nan không sờn!
Nhờ Ngài thêm sức thêm ơn,
Nhắm theo mục đích, vượt hơn mỗi ngày,
Quên đi mọi sự sầu cay,
Tập trung vào Chúa, hướng ngay về Trời!
Chẳng chi giá trị trên đời,
Thế nhân rồi cũng rả rời tiêu tan,
Chi bằng theo đuổi Thiên Đàng,
Sống tin, hy vọng, hiển vang Tin Lành!
Nguyện xin ý Chúa được thành,
Giúp con sống đạo, sáng Danh Thánh Ngài!

(Viết theo chủ đề của Đại Hội 36, tháng 7, 2021)
Tiểu Minh Ngọc
(ĐSPNBT 6/2021)

Hai Anh Giành Một Con Hàu

Văn: Châu Sa

        Sau khi bài “Chuyện Quả Bứa” được gửi ra, có người cho biết câu chuyện này thoát thai từ bài thơ ngụ ngôn “L’Huître et les Plaideurs” của Jean de  La Fontaine.

        Câu chuyện kể 2 ông đạo đi dạo trên bãi biển trông thấy con hàu nằm trên cát.  Cả hai đều thích món hàu tươi này.  Một người thò tay định nhặt, thì người kia vội ngăn và nói mình thấy trước, đáng được hưởng.  Người kia không chịu thua, nói minh có mắt tốt, mũi thính nên phải được hàu.

        Chợt có ông “thầy giùi” đi ngang qua, 2 người nhờ xử kiện.  Thầy giùi nghe đầu đuôi câu chuyện, từ từ mở con hàu ra, đưa lên miệng lủm liền cô hàu tươi, trước sự ngạc nhiên, ngơ ngác của 2 chàng.  Thầy giùi nhai nuốt xong, tách vỏ hàu ra làm 2 mảnh, lên giọng quan án, phán:  “Hai chú đều có công nhận ra con hàu ngon miệng này nên xứng đáng mỗi người một mảnh vỏ, hãy về nhà mạnh giỏi.  Ta miễn cho án phí.

          Một bài học rất hay cho những người hay kiện tụng, hay tranh cạnh.  Chúng ta cũng thấy nhiều người để cho đã nư, bán đi con bò để tranh thắng kiện một con … sò.

          Chúng tôi xin đăng bài thơ nguyên văn bằng tiếng Pháp, bài dịch ra tiếng Anh, bài dịch ra tiếng Việt đầu tiên của ông Trương Minh Ký (1884), bài dịch của ông Nguyễn Văn Vĩnh (1916) và bài dịch  của 2 ông Đỗ Khắc SiêmHà Khắc Nguyện (2009).

L’Huître et les Plaideurs

 Un jour deux Pèlerins sur le sable rencontrent

Une Huître que le flot y venait d’apporter :

Ils l’avalent des yeux, du doigt ils se la montrent ;

A l’égard de la dent il fallut contester.

L’un se baissait déjà pour amasser la proie ;

L’autre le pousse, et dit : Il est bon de savoir

Qui de nous en aura la joie.

Celui qui le premier a pu l’apercevoir

En sera le gobeur ; l’autre le verra faire.

– Si par là on juge l’affaire,

Reprit son compagnon, j’ai l’oeil bon, Dieu merci.

– Je ne l’ai pas mauvais aussi,

Dit l’autre, et je l’ai vue avant vous, sur ma vie.

– Eh bien ! vous l’avez vue, et moi je l’ai sentie.

Pendant tout ce bel incident,

Perrin Dandin arrive : ils le prennent pour juge.

Perrin fort gravement ouvre l’Huître, et la gruge,

Nos deux Messieurs le regardant.

Ce repas fait, il dit d’un ton de Président :

Tenez, la cour vous donne à chacun une écaille

Sans dépens, et qu’en paix chacun chez soi s’en aille.

Mettez ce qu’il en coûte à plaider aujourd’hui ;

Comptez ce qu’il en reste à beaucoup de familles ;

Vous verrez que Perrin tire l’argent à lui,

Et ne laisse aux plaideurs que le sac et les quilles.

— Jean de La Fontaine — Fables 1678

 THE OYSTER AND THE PLEADERS

One day two pilgrims on the sand meet
An Oyster, which the flood had just brought there:
They swallow it with their eyes, they show it to each other;
With regard to the tooth it was necessary to dispute.
One was already bending down to collect the prey;
The other pushes him, and says, “It is good to know
which of us will enjoy it.”
Whoever was the first to see it
will be the gobbler; the other will see him do it.
– If by that we judge the case,
resumed his companion, I have a good eye, thank God.
– I don’t have it bad too,
said the other; and I saw it before you, in my life.
– Well ! you saw her; and I felt it. ”
All this beautiful incident
Perrin Dandin arrives: they take him for judge.
Perrin, very gravely, opens the Oyster, and nibbles it,
Our two gentlemen looking at him.
This meal is over, he said in the tone of a president:
“Here, the court gives you each a scale
Without cost; and may everyone at home go away. »
Put what it costs to plead today;
Count what is left for many families;
You will see that Perrin draws the money for him,
And leaves the litigants only the bag and the pins.

Unknown translator

 Con Hàu Với Những Kẻ Kiện Cáo

Ngày kia hai lão thầy chùa,
Gặp hàu trên cát, sóng đùa đem vô.
Tay đều chỉ, miệng đều hô;
Ấy nên sanh sự tăng đồ tranh ăn.
Người cúi lượm, kẻ cản ngăn,
Rằng: “Ăn cho biết phải chăng rạch ròi.
Thấy trước ăn, thấy sau coi.
Đáp rằng: Xử thế mắt tôi tỏ tường.
Rằng: đây mắt cũng rõ bường.
Lại thêm thấy trước tợ dường ai xui.
Đấy thấy trước, đây đánh mùi.”
Đang khi cãi lẫy thầy giùi đến coi.
Bèn xin chú nghĩ xét soi,
Chú bèn móc ruột ăn rồi mới phân:
“Một người một vỏ đồng cân,
Tha tiền câu lễ yên thân đi về.”
Vắn dài tiếng tục lời quê,
Kẻ khen cũng chướng, người chê mới kì!

Trương Minh Ký (1884)

Chú thích

  1.  Rạch ròi: Cặn kẻ. Huình Tịnh Của giải thích là rẽ ròi, rõ ràng, tường tất, phân minh. Rạch ròi kẻ tóc chân tơ.
  2.  Bường: bằng, từ chữ Hán bình mà ra. Sách báo Miền Nam còn viết “…ngợi cảnh thái bường.”
  3.  Thầy giùi: tiếng gọi kẻ mưu sự quấy, xui giục làm cho người ta kiện cáo nhau.
  4.  Chú nghĩ: anh chàng.
  5.  Tiền câu lễ: người coi về chuyện kiện cáo nho nhỏ trong làng trước khi chuyện được chuyển đến cấp cao hơn. Tiền câu lễ là tiền phải nộp cho câu lễ mỗi khi có chuyện phân xử. Để ý bài nầy về sau các ông Đỗ Thận, Bùi Kỷ, Trần Trọng Kim trong quyển Quốc Văn Giáo Khoa Thư đã tế nhị hơn viết truyện Quả Bứa đổi nhân vật thành hai người học trò tranh nhau quả bứa.

HAI NGƯỜI TRANH NHAU CON SÒ

Hai người đi trẩy hội chùa,
Qua nơi bãi cát, gặp sò nổi lên.
Tay cùng trỏ, mắt cùng nhìn,
Mồm cùng muốn lẩm cùng vin lý già.
Người cúi nhặt, kẻ liền la:
— Khoan, khoan! Hãy hỏi ai là đáng ăn?
Cứ theo như lẽ công-bằng,
Ai mà thấy trước thì ăn đỡ thèm,
Người kia phải đứng mà xem.
Đáp rằng:
— Nếu vậy mà nên công-bình,
Nhờ trời tôi mắt cũng tinh.
Cãi rằng:
— Mắt tớ còn nhanh gấp mười,

Tớ thề tớ thấy trước rồi.
— Nhưng mà tao ngửi thấy mùi đã lâu! »
Trong khi cãi-cọ cùng nhau.
Xẩy Quan Án nọ đi đâu qua đường.
Đôi bên đem chuyện thân tường,
Xin quan phân-xử đôi đường trắng đen.
Cầm sò quan đứng quan nhìn,
Tách đôi mảnh vỏ hút liền ruột trong.
Khi quan vừa nuốt trôi xong,
Ngài bèn lên giọng Bao-Công phán truyền:
Xử cho bên bị bên nguyên,
Quân-phân đôi vỏ, hai bên xử hòa
Còn tiền phí-tổn thì tha.

Thơ rằng:
Kiện-tụng xưa nay tốn kém to,
Chẳng qua đục nước chỉ nuôi cò,
Mới hay gan ruột quan moi hết,
Trơ lại còn đôi cái vỏ sò!

Nguyễn Văn Vĩnh  (1916)

Con sò và các tụng nhân

Hai lữ khách một hôm cùng thấy
Một con sò sóng đẩy đưa lên
Cả hai tay chỉ mắt nhìn
Miệng tuôn nước dãi, cùng thèm nên tranh
Giơ tay vói, một anh định nhặt
Anh bạn kia cản, giật tay ra
Nói rằng hai đứa chúng ta
Ai trông thấy trước mới là được ăn
– Theo điểm đó, mắt thần chính tớ
Anh kia rằng: “Mắt tỏ, nhất tôi
Tôi trông thấy trước hẳn hòi
Nói sai tôi chịu tội trời chết ngay”
– Anh trông thấy, tôi đây ngửi thấy
Giữa lúc này qua đấy một ông
Cả hai đem việc trình luôn
Ông này cầm lấy phanh tung con sò
Ông xơi ruột, còn cho đôi gã
Hai vỏ sò ông đã xé ra
Rồi ông lên giọng quan tòa:
– Cấm không tranh chấp, về nhà cả hai
Án phí tòa miễn không đòi

Gẫm xem kiện tụng xưa nay
Bao nhiêu tiền của vào tay quan tòa
Còn chi cho kẻ kiện thưa
Còn chiếc bị rỗng, sao mà không hay

Đỗ Khắc SiêmHà Khắc Nguyện (2009)

Chuyện Quả Bứa

Văn: Châu Sa

Tháng 11 năm 2012, Dr. Oz lên truyền hình nói về một thứ trái cây có tên khoa học là Garcinia cambogia có tác dụng làm giảm cân nhờ chất Hydroxycitric acid (HCA), trích ra từ vỏ phơi khô của loại trái cây này. Sau lời quảng cáo của Dr. Oz, nhiều người, ngay cả minh tinh màn bạc, bắt đầu thử. Có người nói là kết quả tốt, có người nói là vô thưởng vô phạt. Tuy vậy, các hãng làm thuốc giảm cân bằng trái Garcinia cambogia (đọc diễu là Cấm Bố Già) kiếm được khá nhiều tiền.

Sau khi tìm hiểu, có người phát hiện ra thứ trái cây này chẳng qua là trái bứa (hay quả bứa). Cây bứa thường mọc hoang ở vùng cận nhiệt đới, Indonesia, Đông Nam Á, châu Phi. Quả có màu hơi vàng, xanh giống trái bí rợ nhỏ, có họ với măng cụt. Ở Việt Nam, nhiều người dùng trái bứa để nấu canh chua. Muốn diễn tả tánh bướng bỉnh, cố chấp, không phục thiện, người ta nói là ngang như cua, hay ngang cành bứa (vì cây bứa có cành mọc ngang).  Trong sách Quốc văn giáo khoa thư cho học trò nhiều thập niên trước có ghi chuyện Quả Bứa:


-Năm và Sáu cùng đan tay đi với nhau. Chợt đâu bắt được một quả bứa ở giữa đường. Hai cậu tranh nhau mãi. Năm thì rằng:  “Quả bứa ấy của tao, vì mắt tao trông thấy trước.  Sáu thì rằng: “Của tao, vì tay tao nhặt lên được”.  Hai cậu to tiếng cãi nhau, giơ chân, giơ tay, chực sinh sự đánh nhau. Ngay lúc ấy có cậu Cả vừa đi qua, hai cậu vội mời lại để nhờ phân xử hộ.  Cậu Cả nghe đầu đuôi, cầm ngay lấy quả bứa, bảo hai cậu đứng sang hai bên. Đoạn, cậu móc túi, lấy con dao con, bổ quả bứa ra làm đôi, rồi làm bộ nghiêm trang mà nói rằng: “Năm, mày trông thấy quả bứa trước, mày lấy nửa vỏ này. Sáu, mày nhặt được quả bứa lên, mày lấy nửa vỏ này. Còn những múi bứa đây là phần tao cả, vì tao đã mất công khó nhọc phân xử việc này cho chúng bay.  Nói xong, cậu Cả bỏ bứa vào miệng rồi vừa đi vừa cười. Còn Năm và Sáu thì đứng trơ mắt ra đó.

Câu chuyện này là bài học cho chúng ta khi có mâu thuẫn nên dàn xếp với nhau nếu có thể được. Nhiều người nhờ luật pháp, tòa án giải quyết thì sau cùng thấy rằng không những đã tốn thì giờ, tiền bạc mà tình cảm cũng bị mất mát. Thánh Phao-lô qua thư thứ nhất gửi tín hữu Hội Thánh Cô-rinh-tô nhắc nhở anh em khi có mâu thuẫn nên nhờ trưởng lão uy tín trong Hội Thánh phân xử hơn là nhờ người bên ngoài xử kiện. (1Cô-rinh-tô 6 :1-11). Nhiều nơi trong Kinh Thánh, chúng ta được nhắc nhở trao mọi oan ức cho Chúa vì Chúa là Đấng lập ra luật pháp, xử đoán kẻ sống và kẻ chết một cách công bình. (1Phi-ê-rơ 4:5; Gia cơ 4 :12a; E-sai 33 :22). Thánh Phao-lô cũng hơn một lần nhấn mạnh Đức Chúa Trời là Chúa của luật gieo-gặt hay luật nhân-quả. Ngài chí công, ai gieo chi thì gặt nấy. Ai gieo bất nghĩa thì gặp bất nghĩa; ai gieo công bình thì gặt công bình, không có thiên vị ai hết. “Vì trước mặt Đức Chúa Trời chẳng vị nể ai đâu” (Rô-ma 2 :11).

Châu Sa  -Trích “Nếp Sống Mới” Đông – 2016

 

Nếu Có Thể

“Nếu có thể được, thì hãy hết sức mình mà hòa thuận với mọi người.” – Rô-ma 12:18
“dùng dây hòa bình mà giữ gìn sự hiệp một của Thánh Linh.” – Ê-phê-sô 4:3
“Hãy ở với nhau cách nhân từ, đầy dẫy lòng thương xót, tha thứ nhau như Đức Chúa Trời đã tha thứ anh em trong Đấng Christ vậy.” – Ê-phê-sô 4:32
“Chớ hề dối mình; Đức Chúa Trời không chịu khinh dể đâu; vì ai gieo giống chi, lại gặt giống ấy.” – Ga-la-ti 6:7

Nếu có thể, ta bỏ qua lầm lở,
Mà có lần, ai đó phạm đến ta,
Để tình thương tràn ngập hết mọi nhà,
Thì bạn nghĩ, ta có nên không nhỉ?

Nếu có thể, ta nhớ điều cao quý,
Từ mọi người, đã in dấu trong ta,
Để đến khi, gặp phải chuyện rầy rà,
Ngồi gẫm lại, mà dễ dàng tha thứ!

Nếu có thể, ta ra công gìn giữ,
Hết sức mình, hòa thuận với mọi người,
Sống nhân từ, rao Tình Chúa khắp nơi,
Để tất cả, nhận vào Ơn Cứu Rỗi!

Nếu có thể, ta sẵn sàng thay đổi,
Để lòng mình, không gian dối làm sai,
Nhưng gieo ra, hạt giống thánh trong Ngài,
Những việc thiện, giúp nhau khi cần đến!

Ta hãy sống, với tình yêu thân mến,
Nhìn Giê-xu, đã thương xót cứu ta,
Ngài thứ tha, mọi tội lỗi gian tà,
Cho ta sống, đời đời nhờ Ân Điển!

Ôi cảm tạ, Chúa toàn năng bất biến,
Xin Linh Ngài, luôn nhắc nhở chúng con,
Nguyện hết lòng, phục vụ chẳng mỏi mòn,
Cho Danh Chúa, tôn cao trên khắp đất!

Tiểu Minh Ngọc

“HẠNH-PHƯỚC THẬT” – “CÁC PHƯỚC LÀNH”

Thơ: Linh-Ân Nguyễn Thiện Nhân

“HẠNH-PHƯỚC THẬT” – “CÁC PHƯỚC LÀNH”

(Ma-thi-ơ 5:1-12)

————

“Thực Trạng Bên Trong”

 

NGHÈO-KHÓ thân linh nào có hay ?!

Cứu ân ban thưởng bấy lâu nay,

KHÓC-THAN khẩn nguyện ăn năn tội,

Thần cảm tâm linh thỏa mãn rày.

Ứng xử KHIÊM-NHU tâm Sống-Đạo…

Gia cang tận hưởng Phước Ân đầy.

Công bình KHAO-KHÁT hằng tiên quyết…

Ân Điển Thiên ban sung mãn thay.

 

“Thể Hiện Bên Ngoài”

 

THƯƠNG-XÓT tha nhân tỏ mỗi ngày,

Chúa ban ân thưởng xót thương ngay.

Giữ lòng TRONG-SẠCH theo ơn Chúa,

Đấng Thánh tâm đầu phước hạnh thay.

Con Chúa phải luôn sống THUẬN-HÒA,

Tỏ bày Đạo Sống tháng năm qua,

Mang thân THỐNG-KHỔ vì Danh Chúa,

Thiên Quốc Hiển Vinh Vĩnh Cửu Gia.

 

  Linh-Ân Nguyễn Thiện Nhân

(Cảm tác.CN.07/18/2021)

“HIẾN-CHƯƠNG NƯỚC TRỜI”

Thơ: Linh-Ân Nguyễn Thiện Nhân

“HIẾN-CHƯƠNG NƯỚC TRỜI”

“SỰ BÌNH THƯỜNG MỚI”

(Ma-thi-ơ 5-7)

————

Bộ LuậtHIẾN-CHƯƠNG NƯỚC TRỜI”,

SỰ BÌNH THƯỜNG MỚI”, gọi mời Tín-Nhân.

Thoả Vui Hạnh Phước muôn phần,

Trách Nhiệm Sống Đạo chuyên cần tăng thêm.

Thẩm Quyền Mặc Khải phải chuyên,

Thành Tâm Thể Hiện giải khuyên tỏ tường.

Tích Trữ An Toàn chủ trương,

Tâm Linh hiển hiện thân thương An Bình.

Tự Xét Khiêm Hạ đậm tình,

Trình Dâng khẩn thiết tường trình Yếu Nhu.

Tương Lai Bền Vững chỉnh chu,

Bày Tỏ Tình ChúaMặc Dù” đoái thương.(*)

(*) Agape

    Linh-Ân Nguyễn Thiện Nhân

    (Cảm tác. 07/20/2021)

CHUYỆN…CÂY CẦU

Văn: MS Nguyễn Đình Liễu.  

Kinh Thánh: Giăng 1: 12; Công vụ các sứ đồ 4: 12; I Ti-mô-thê 2: 5 (*)

 Kính chào quý độc giả,

Vào ngày 13/ 7/ 2021 vừa qua, chúng tôi có cơ hội được đến tham quan cây cầu nổi tiếng của nước Mỹ và của cả thế giới, đó là Cổng Cầu Vàng (Golden Gate Bridge), tại thành phố San Francisco, tiểu bang California.

Vài nét về Cổng Cầu Vàng:

Cây cầu được khởi công xây dựng vào đầu năm 1933. Sau chừng 4 năm xây dựng, vào năm 1937, cây cầu được hoàn thành, và trở thành cây cầu treo dài nhất thế giới lúc bấy giờ.

Cây cầu có độ dài là 2,7 km, khoảng cách giữa các nhịp cầu là 1.280 mét, cách mặt nước 67 mét, còn hai tháp cầu có độ cao 230 mét tính từ mặt nước.

Tại sao gọi là Cổng Cầu Vàng?

Tại vì cây cầu được bắc qua Cổng Vàng, một eo biển rộng chừng một dặm (tương đương 1,6 km) nối liền vịnh San Francisco và Thái Bình Dương. Cầu này nối thành phố San Francisco  đến Quận Marin, thuộc tiểu bang California.

Kể từ khi hoàn thành đến nay đã có tám chiếc cầu khác có chiều dài…qua mặt Cầu Cổng Vàng. Tuy thế, đây vẫn là cây cầu treo dài thứ hai ở Hoa Kỳ, sau cầu Verrazzano-Narrows ở New York.

Chi phí dùng để xây dựng cầu lên đến 35.000.000 USD.

Strauss là kỹ sư trưởng của công trình xây dựng nầy. Hiện nay, ngay tại gần chân cầu, có một đài tưởng niệm vị kỹ sư nổi tiếng nầy, để mọi người được biết và ghi nhớ công ơn của một vị kỹ sư tài năng và can đảm của nước Mỹ.

Cổng Cầu Vàng là biểu tượng của thành phố San Francisco và cũng là niềm tự hào của đất nước Hoa Kỳ xinh đẹp. (**)

Ngay từ thời còn học Trung Học Đệ Nhất Cấp trước năm 1975, trong chương trình tiếng Anh “English For Today”, tôi đã được học biết về cây cầu nổi tiếng nầy, cũng như biết đến thành phố Chicago lừng danh của Mỹ, và thầm mong ước có một ngày nào đó, nhờ ơn Ông Trời, sẽ được đến tận nơi để chiêm ngưỡng những cảnh đẹp thú vị nầy một lần cho thỏa thích.

Và mong ước đó đã thành hiện thực sau…40 năm.

Vào đầu tháng 7/ 2014, tôi được qua Mỹ để tham dự Đại Hội Baptist tổ chức tại thành phố Atlanta xinh đẹp thuộc tiểu bang Georgia. Sau khi dự Đại Hội xong, tôi được một số Hội Thánh  mời giảng vào những Chúa nhật sau Đại Hội. Chúa nhật ngày 13 tháng 7 năm 2014, tôi được Mục Sư AQV mời đến thăm viếng và giảng lời Chúa cho Hội Thánh  Baptist Chicago, thuộc tiểu bang Illinos. Thế là, tự nhiên tôi được đến ngay tại trung tâm thành phố Chicago sầm uất để được ngắm nhìn vẻ đẹp một cách kỳ lạ của Chicago với nhiều tòa nhà chọc trời (skyscraper) thật “đã” con mắt. Mục Sư AQV chở tôi đi tham quan một số cảnh đẹp tại Chicago, và đi ăn Phở Việt Nam cực kỳ ngon ngay tại trung tâm thành phố.

Cảm ơn tấm lòng tốt của vợ chồng Mục Sư AQV đã dành cho chúng tôi. Nhớ mãi tâm tình của ông bà Mục Sư dành cho…người nhà quê thiệt quê lần đầu đến Mỹ như tôi!

Rồi vào Chúa nhật ngày 20 tháng 7, tôi đến thăm và giảng lời Chúa tại Hội Thánh  Sống-Tin-Hy vọng tại San Jose, do Mục Sư KTH làm Quản Nhiệm lúc bấy giờ. Sau ngày Chúa nhật, Mục Sư KTH chở tôi đi thăm Cổng Cầu Vàng theo sự hướng dẫn của Mục Sư NVK.

Phải nói đó là một kỷ niệm đẹp mà tôi không bao giờ quên được trong cuộc đời, vì Chúa đã cho một mong ước từ lúc nhỏ của mình đã trở thành hiện thực.

Cảm ơn  sự nhiệt tình và tận tâm của hai vị Mục Sư thân thương: KTH và NVK thật nhiều!

Và ngày 13/ 7/ 2021 vừa qua là lần thứ hai, tôi được trở lại thăm Cổng Cầu Vàng nổi tiếng nầy, sau 7 năm, kể từ lần viếng thăm đầu tiên vào năm 2014.

Thế đấy, trong đời, có nhiều điều quý báu mà Chúa dành cho mình, nhiều khi mình cũng không ngờ được. Chúa quả thật là tốt lành biết bao!

Trên thế giới, có nhiều cây cầu nổi tiếng như Cổng Cầu Vàng tại San Francisco. Có thể kể tên như:

Cầu Brooklyn là một trong những cây cầu treo lâu đời nhất ở Mỹ và cũng là cây cầu treo dài nhất thế giới cho đến năm 1903. Cầu kết nối khu Manhattan và Brooklyn bị chia cắt bởi dòng sông East. Khi đến thăm New York, bạn không thể không đến thăm cây cầu độc đáo và thơ mộng nầy.

Cầu Cảng Sydney là cây cầu chính băng qua Cảng Sydney, nối liền khu thương mại trung tâm của thành phố với vùng North Shore ở miền Bắc. Đây là biểu tượng của thành phố Sydney xinh đẹp và của cả nước Úc.

Hầu như du khách nào đến thăm Sydney đều không thể không ghé thăm và chụp hình tại cây cầu nầy để làm kỷ niệm cho chuyến đi của mình.

Cầu Tháp là một trong những biểu tượng của thủ đô London, Anh Quốc, cũng là một cây cầu lừng danh thế giới mà ai cũng mong một lần được viếng thăm. Sở dĩ gọi là Cầu Tháp, vì nó nằm liền với 2 tòa tháp.

Cầu Rialto, ở thành phố Venice, nước Italy, là một trong những cây cầu thu hút hàng triệu du khách từ khắp nơi trên thế giới ghé thăm mỗi năm.

Millau là một cây cầu dây văng bắc qua thung lũng sông Tarn ở miền nam nước Pháp, cũng là một cây cầu xinh đẹp đáng cho du khách mỗi khi đến nước Pháp dành thì giờ để viếng thăm, chiêm ngưỡng.

Ở  Nhật Bản có cầu Akashi Kaikyō (cầu Ngọc Trai) nổi tiếng bắc qua vịnh Akashi, nối thành phố Kobe (Honshu) với Iwaya trên đảo Awaji. Cây cầu Ngọc Trai nầy cũng đẹp tầm cỡ thế giới không thua gì những cây cầu vừa kể.

Còn nhiều cây cầu xinh đẹp và độc đáo khác  nữa ở nhiều nước khác, nhưng chưa thể nào kể ra được trong bài viết ngắn ngủi nầy.

Ước ao có ít nhất một lần trong tương lai, người viết bài nầy sẽ có cơ hội đặt chân đến thăm những quốc gia nói trên và thăm những cây cầu đáng yêu đó, như đã được viếng thăm Cổng Cầu Vàng tại San Franciso vậy.

Tôi ơi, hãy đợi đấy!

Trong ca dao Việt Nam, ông cha ta cũng đã tạo ra những…cây cầu rất thú vị và nên thơ mà chắc nhiều người Việt Nam đều biết. Xin được kể ra vài…cây cầu đặc biệt ấy:

 Ước gì sông rộng một gang

Bắc cầu dãi yếm cho chàng sang chơi.

Có lẽ đây là…cây cầu ngắn nhất thế giới, vì chỉ có…một gang tay thôi.

Dải yếm là trang phục của người phụ nữ xưa, là vật bất ly thân, thể hiện nét đẹp mềm mại, dịu dàng, kín đáo, đầy nữ tính của người con gái.

Dùng chiếc dãi yếm để bắc cầu cho người yêu sang chơi, quả là một cách tỏ tình…không còn gì nồng cháy hơn, mãnh liệt hơn phải không bạn?

Đây là một…cây cầu độc đáo khác:

Ở gần sao chẳng sang chơi
Để em hái ngọn mồng tơi bắc cầu
Bắc cầu anh chẳng đi cầu
Để tốn công thợ để sầu lòng em

Trong tình yêu, khi yêu, người ta có thể dùng cả…ngọn mồng tơi để bắc cầu cho người mình yêu đi qua mà đến thăm mình và tình tự với nhau. Cách tỏ tình của người con gái ở đây thật khéo léo và độc đáo đến…bất ngờ.

Còn đây lại là một…cây cầu đáng yêu khác:

Bao giờ sông hẹp bằng ao,
Bắc cầu chiếc đũa qua trao lời nguyền

Bạn thấy cầu…chiếc đũa bao giờ chưa?

Tôi chưa thấy ở ngoài đời, nhưng tôi đã thấy nó trong ca dao, mà cụ thể là câu ca dao nầy. Dùng chiếc đũa để bắc cầu cho người mình yêu qua trao lời hẹn ước, thề nguyền với nhau. Quả thật, đây lại thêm một cách tỏ tình rất độc đáo của cha ông ta ngày xưa.

Cầu…dãi yếm, cầu…mồng tơi, cầu…chiếc đũa…là những cây cầu độc đáo, có một không hai trên thế giới, và chỉ có ở Việt Nam, và cũng chỉ ở trong kho tàng ca dao độc đáo của người Việt Nam chúng ta mà thôi.

Tôi yêu thích ca dao, tục ngữ, dân ca của người Việt Nam mình lắm lắm, vì nó vô cùng sâu sắc và ý nhị.

Hãy thử đọc thêm mấy câu ca dao sau để thấy cái bình dị mà thâm thúy của nó:

Không đi thì nhớ thì thương
Đi thì lại mắc cái mương, cái cầu
Không đi thì nhớ thì sầu,
Đi thì lại mắc cái cầu, cái mương

Những từ “không đi”, “đi”, “nhớ”, “thương”, “cái mương”, “cái cầu” cứ lặp đi lặp lại trong mấy câu ca dao ngắn ngủi, nói lên nỗi nhớ thương da diết của đôi lứa yêu nhau cứ như quay cuồng trong trái tim, nỗi nhớ thương cứ như quấn chặt lấy họ vậy.

Bạn có thấy như thế không? Và bạn có cảm nhận được cái thâm thúy, sâu sắc, đáng yêu của ca dao không?

Hãy yêu lấy ca dao, dân ca của nước Việt mình bạn nhé!

Thưa bạn,

Những cây cầu mà chúng ta thường thấy đây đó khắp mọi nơi trên thế giới nầy là những cây cầu địa lý, nó giúp con người có thể lưu thông được từ chỗ nầy qua chỗ khác, làm cho con người không bị ngăn cách nhau. Những cây cầu đó nó đem lại nhiều ích lợi và giá trị cho cuộc sống con người; nhưng xét cho cùng, nó cũng chỉ đem lại cho con người chúng ta những giá trị trong cuộc sống tạm bợ, ngắn ngủi của con người khi còn sống trên trần gian nầy mà thôi.

Có một cây cầu và chỉ một mà thôi có thể đem lại cho con người chúng ta một giá trị vĩnh cửu, đời đời. Cây cầu đó chính là CHÚA GIÊ-SU.

Kinh Thánh cho biết, Chúa Giê-su chính là cây cầu nối liền giữa con người tội lỗi với Đức Chúa Trời thánh khiết.

Sứ đồ Phao-lô khẳng định:
“Vì chỉ có một Đức Chúa Trời, và chỉ có một Đấng Trung bảo giữa Đức Chúa Trời và loài người, tức là Đức Chúa Giê-su Christ, là người.” (Sách I Ti-mô-thê, chương 2, câu 5-BTT)

Chúa Giê-su Christ chính là Đấng Trung bảo giữa Đức Chúa Trời và loài người, có nghĩa là Ngài là CÂY CẦU nối liền giữa Đức Chúa Trời thánh khiết với con người tội lỗi chúng ta.

Qua CÂY CẦU CHÚA GIÊ-SU CHRIST, Đức Chúa Trời chấp nhận bất cứ người nào ăn năn tội, tin nhận Chúa Giê-su làm Chúa, làm Chủ cuộc đời, là con cái của Ngài. Đức Chúa Trời tha thứ mọi tội lỗi cho bất cứ ai tin đến danh Con của Ngài là Đức Chúa Giê-su Christ. Đức Chúa Trời ban cho  người nào kêu cầu danh Chúa Giê-su địa vị làm con cái Ngài.

Sứ đồ Giăng xác nhận:

“Nhưng hễ ai đã nhận Ngài (Chúa Giê-su-nv),  thì Ngài ban cho  quyền phép trở nên con cái Đức Chúa Trời, là ban cho  những kẻ tin danh Ngài.” (Sách Giăng, chương 1, câu 12)

Bạn muốn được làm con cái của Đức Chúa Trời, và muốn được vào Thiên đàng ở với Chúa sau khi kết thúc cuộc đời ngắn ngủi nầy, thì chỉ có một cách duy nhất, không có cách thứ hai, ấy là bước đi trên CÂY CẦU CỨU RỖI là ĐỨC CHÚA GIÊ-SU CHRIST.

Sứ đồ Phi-e-rơ đã bày tỏ chân lý ấy rất rõ ràng: “Chẳng có sự cứu rỗi trong Đấng nào khác (ngoài Chúa Cứu Thế Giê-su, nv), vì ở dưới trời, chẳng có danh nào khác ban cho  loài người, để chúng ta phải nhờ đó mà được cứu.” (Sách Công vụ các sứ đồ, chương 4, câu 12)

Tôi vô cùng sung sướng và hạnh phúc khi được bước đi trên CÂY CẦU CỨU RỖI là ĐỨC CHÚA GIÊ-SU CHRIST bao nhiêu năm qua. Đời tôi thật sự được bình an khi ở trong Ngài. Và tôi có một hy vọng vững chắc ở tương lai, ấy là tôi sẽ được bước vào Thiên đàng ở với Chúa Giê-su mãi mãi, khi kết thúc cuộc sống tạm bợ nầy.

Tôi ước mong bạn cũng sẽ sớm quyết định bước đi trên CÂY CẦU CỨU RỖI là ĐỨC CHÚA GIÊ-SU CHRIST như tôi và biết bao người trên thế giới nầy đã và đang bước đi vậy.

Cầu xin Đức Chúa Trời thương xót và làm ơn cho bạn cũng như Ngài đã thương xót và làm ơn cho tôi!

Thành phố Stockton, California, tháng 7/ 2021

Mục Sư Nguyễn – Đình – Liễu.  

 

(*): Những câu Kinh Thánh trong bài viết là trích từ bản Kinh Thánh Truyền Thống (BTT)

(**): Dựa theo ý từ Wikipedia

NHỮNG THI SĨ CƠ-ĐỐC NGƯỜI QUẢNG NAM

Văn: MS Nguyễn Đình Liễu

(Để ghi dấu cột mốc 110 năm Tin Lành truyền đến Việt Nam (1911-2021)

(Kính tặng các Nhà Thơ Cơ-đốc Quảng Nam và bạn đọc yêu thơ Cơ-đốc gần xa!)

 

Kính chào quý độc giả,

“Đất Quảng Nam chưa mưa đà thấm

Rượu Hồng Đào chưa nhấm đà say.”

Đó là câu ca dao rất quen thuộc để giới thiệu với mọi người gần xa về xứ Quảng Nam thân thương nặng nghĩa nặng tình, và luôn nhạy cảm trong cuộc sống (chưa mưa đà thấm, chưa nhấm đà say) mà.

Quảng Nam là một Tỉnh nằm ngay gần như chính giữa hai đầu đất nước và là một Tỉnh có hai thành phố (thành phố Tam Kỳ và thành phố cổ Hội An), có hai di sản văn hoá thế giới (là Hội An và Mỹ Sơn). Đó là những điểm đặc biệt của Tỉnh Quảng Nam. Về món ăn đặc trưng của Quảng Nam thì không thể không nhắc đến món mì Quảng, như là…linh hồn ẩm thực của xứ Quảng, không thể không nhắc đến bê thui Cầu Mống (Điện Bàn), và cũng không thể không nhắc đến bánh tráng cuốn thịt heo Hà Lam (Thăng Bình).

Tôi có một người bạn ở Mỹ, một lần cô ta điện thoại nói chuyện với tôi rằng nghe nói ở Quảng Nam của anh có món bánh tráng cuốn thịt heo ngon dữ lắm hả? Khi nào em về Quảng Nam anh nhớ đãi em ăn món đó nha. Tôi nói với cô ấy rằng nếu cô có dịp về thăm quê tôi, chắc chắn tôi sẽ nói “nhà có tóc” của tôi làm món bánh tráng cuốn thịt heo đãi cô ăn đến… mệt nghỉ thì thôi. Cô ta cười một cách thích thú và … hù tôi bằng câu: “Hãy đợi đấy!”  Vậy mà, đã gần chục năm rồi, tôi đợi cô về để đãi món đó mà cũng chưa thấy cô về nữa. Chẳng biết khi nào cô mới về được? Vì tôi biết tính chất công việc của cô, không phải hễ nói đi là đi được liền.

Vâng, thịt heo, bánh tráng đã sẵn sàng và vợ chồng tôi đang đợi cô đây!

Thật mừng khi thấy món ăn dân dã của quê mình mà lại được người ở xa biết đến như thế. Trong một lần gặp Mục Sư NVH từ Mỹ về, ông còn tiết lộ cho tôi biết là ở Quảng Nam mình(vì ông cũng là người Quảng Nam) còn có một món rất ngon, đó là…canh chua cá ngạnh. Ông nói rằng cá ngạnh chỉ có ở Quảng Nam mà thôi, các nơi khác không có(không biết là có đúng như thế không???). Khi còn nhỏ ở quê, ông thường hay được ăn loại cá nầy và cho đến bây giờ, đã trên 70 tuổi rồi và đã qua Mỹ trên 30 năm, nhưng ông vẫn luôn nhớ về … con cá ngạnh quê mình. Trong một chuyến về thăm quê , ông nói ông sẽ tìm canh chua cá ngạnh để ăn cho… đã đời, nhưng không biết là ông đã tìm được “món ăn xưa cũ” đó để ăn cho … đã đời chưa? Cá ngạnh là một loài cá có màu đen trên lưng và trắng ở dưới bụng, nhỏ, dài, hình thù giống như cá trê, có ngạnh nhọn ở hai bên mang, phải chăng vì vậy mà người ta gọi là cá ngạnh??? Cá ngạnh có nhiều ở các sông, suối, ao nước vùng đất Quảng Nam. Khi đi câu, hay đi tát cá người ta thường bắt được cá ngạnh khá nhiều. Cá ngạnh dùng để nấu canh chua thì ngon… hết chỗ chê. Thỉnh thoảng, “nhà có tóc” của tôi cũng có nấu canh chua cá ngạnh để … chiêu đãi cả gia đình. Phải nói là ngon thiệt, không biết là ngon do cá ngạnh hay do… tài nấu ăn của nàng? Những bữa trưa hè nóng bức ở miền Trung, nhất là ở Quảng Nam, mà có một tô canh chua cá ngạnh trong bữa ăn thì còn gì thú vị bằng. Cảm ơn Tạo Hoá đã ban cho con người chúng ta con cá ngạnh, dù có hai cái ngạnh nhọn hơi… nguy hiểm nhưng ngon đáo để, giống như hoa hồng có gai, nhưng là nữ hoàng của các loài hoa vậy.

Từ nảy đến giờ có lẽ là tôi đã … đi lạc đề quá xa rồi chăng? Vì đề tài tôi muốn viết là các Thi Sĩ Cơ-đốc người Quảng Nam cơ mà có liên quan gì đến món ăn ngon ở Quảng Nam đâu nhỉ? Vâng, tôi biết như thế, nhưng thưa với bạn đọc, tôi nghĩ nó cũng có … liên quan đấy. Vì bất cứ ai ở Quảng Nam cũng đều phải…nếm trải món ngon của quê mình từ nhỏ cho đến lớn, cho đến khi vì mưu sinh hay vì một lý do nào đó phải…tạm biệt quê hương yêu dấu để đi sống ở một nơi xa quê. Những người có tâm hồn văn chương thơ phú thì lại càng có tâm hồn ăn uống, nên càng gần gũi với món ngon quê nhà hơn ai hết. Nên trước khi nói về đề tài thơ phú thì tưởng cũng nhắc đến món ngon quê nhà một chút cho những người con có tâm hồn văn chương thơ phú của quê hương đang ở xa cũng được…thưởng thức từ xa món ngon quê mình cho đỡ nhớ. Khi đi xa, ai cũng nhớ về quê nhà, mà một trong những thứ mà người ta nhớ đầu tiên phải là những món ăn dân dã của quê hương. Chẳng thế mà cha ông ta đã từng nói:

Anh đi anh nhớ quê nhà/ Nhớ canh rau muống, nhớ cà dầm tương/ Nhớ ai dãi nắng, dầm sương/ Nhớ ai tát nước bên đường hôm nao, đó sao!

Chính vì vậy mà tôi mới … cố tình lạc đề một chút đó, rất mong bạn đọc thông cảm mà bỏ qua cho.

Nói đến Thi Sĩ Cơ-đốc người Quảng Nam, trước hết phải nói đến Thi Sĩ Phan Đình Liệu.

Cụ Phan Đình Liệu sinh năm 1888 tại Cẩm Sa, Huyện Điện Bàn, Tỉnh Quảng Nam trong một gia đình trung lưu gia giáo. Cụ là người thông minh, chí khí, tài năng thiên phú. Tứ Thư, Ngũ Kinh, các sách văn chương cổ, khoa truyện cụ đều rất giỏi.

Thi Sĩ Phan Đình Liệu trước hết là một Mục Sư trung kiên của Chúa. Ông hăng say giảng Tin Lành cho đồng bào yêu quý của mình, vì ông đã nếm trải biết bao ơn phước khi được làm một môn đồ của Chúa Giê-su. Ông mong muốn, khát khao làm sao cho nhiều đồng bào của mình cũng được cứu như mình. Để đồng bào có thể được cứu, ông biết chắc không có cách nào khác là phải gieo giống Tin Lành như lời Chúa đã dạy: “đức tin đến bởi sự người ta nghe, mà người ta nghe, là khi lời của Đấng Christ được rao giảng.”(Rô-ma 10: 17). Và thế là ông hăng hái, tận tâm, trung tín, dạn dĩ rao giảng Tin Lành cho đồng bào. Và lòng hăng hái đó của Mục Sư đã bị thách thức. Ông bị người ta bắt và giam 6 tháng tù tại Nha Trang với lý do là giảng Tin Lành. Thế là Mục Sư Phan Đình Liệu bị tù. Vâng, người ta có thể bắt bỏ tù một Mục Sư, một tôi tớ của Chúa, nhưng chắc chắn không ai có thể bỏ tù được Tin Lành của nước Đức Chúa Trời. Quả thật vậy, trong tù, Mục Sư vẫn vâng theo lời Chúa dạy rao giảng Tin Lành cho những phạm nhân trong tù, có nhiều phạm nhân tin Chúa và Mục Sư quyết định lập … Hội Thánh tù. Mục Sư Lê Văn Thái đã kể lại trong hồi ký “Bốn mươi sáu năm trong chức vụ” của mình như sau: “Trong khi đó thì cụ Mục Sư Phan Đình Liệu vẫn bình thản sống trong lao tù… Cụ tin chắc Hội Thánh đang cầu nguyện cho mình, do đó hàng ngày cụ kiên nhẫn làm chứng về tình yêu thương của Đức Chúa Trời và ân điển của Chúa Giê-su cho từng tù nhân trong khám. Kết quả có mười chín người trong lao tin nhận Chúa, cụ sửa soạn lập một Hội Thánh trong nhà giam.”

Trong nhà tù, với tâm hồn thi phú Chúa ban cho, Mục Sư Phan Đình Liệu đã làm bài thơ đặc biệt sau đây, một bài thơ theo thể thất ngôn bát cú thật cảm động với lời lẽ đầy hy vọng:

Tra xem lịch sử trải nghìn thu
Mới thấy trong lao Hội Thánh tù
Sở bãi lui về ăn dưới cỏ
Ngủ rồi thức dậy tiểu trong lu
Cùm săn chơn cứng vừa in khít
Cơm vắt trời nuôi cũng mập ù
Cánh cửa lao lung dù khoá chặt
Khôn ngăn lòng đến Chúa Giê-su.

Ngoài bài thơ nầy, tôi không biết là Mục Sư Phan Đình Liệu còn làm được bao nhiêu bài thơ khác, nhưng chắc chắn là có những bài thơ khác nữa. Không biết là cụ có in ra tập thơ nào không, nhưng nghe đâu, trước đây nhà sách Ánh Sáng của Hội Thánh Tin Lành Tuy Hoà(Tỉnh Phú Yên) có cho ra mắt tuyển tập thơ của cụ với tựa đề là “Lửa Sống” thì phải. Với tâm hồn thi phú Chúa ban cho ấy, Mục Sư cũng đã đặt lời cho một số bài Thánh ca có ý nghĩa rất sâu sắc mà đã được con dân Chúa sử dụng để ca ngợi Chúa gần cả trăm năm qua và chắc chắn sẽ còn được sử dụng lâu dài nữa để ngợi khen tình yêu Chúa, như các bài Thánh ca (TC) với các tựa đề sau: “Đêm Chúa Trời ban ơn lành”(TC 68), “Thiên sứ báo tin Chúa lâm phàm”(TC 69), “Đức tin, trông cậy, yêu thương”(TC 310), “Báo Tin Lành”(TC329), “Mạng lịnh duy nhứt”(TC 352).

Cụ Mục Sư Thi Sĩ Phan Đình Liệu được Chúa gọi về yên nghỉ trong nước Ngài tại Đà-lạt vào ngày 19/12/1979, hưởng thọ 91 tuổi.

Mục Sư Phan Đình Liệu quả rất xứng đáng là một Thi Sĩ Cơ-đốc người Quảng Nam đáng kính trọng trong vòng những thi nhân Cơ đốc của chúng ta.

 

Mục Sư Ông Văn Huyên cũng là một Thi Sĩ Cơ-đốc được nhiều người trân quý. Mục Sư Ông Văn Huyên sinh ngày 15 tháng 01 năm 1901 (có tài liệu cho rằng năm 1900) tại Hòa Vang, Quảng Nam. Ông xuất thân từ gia đình tiểu nông theo nề nếp Khổng Giáo. Cụ tin Chúa năm 1920, do cụ Mục Sư Phan Đình Liệu cầu nguyện. Tôi không biết cụ Mục Sư Ông Văn Huyên có làm thơ nhiều không, nhưng cụ có đặt lời cho một số bài Thánh ca như TC số 320, 353, 358, 409 và nhất là TC 509 “Ngày Giờ Qua”. TC 509 là một bài thánh ca nổi tiếng vì lời lẽ của nó thật mượt mà, đầy hình ảnh, đặc biệt đầy…chất thơ. Những lời ca đẹp như thế chỉ có thể xuất phát từ một tâm hồn thơ tuôn trào mà thôi. Mỗi khi năm mới đến, có thể nói, không một tín hữu Tin Lành nào mà không ít nhất một lần hát vang lên bài thánh ca nầy với cả tấm lòng vui sướng đón chào năm mới đến với bao hy vọng trong Chúa Xuân.

 

Một Thi Sĩ Cơ-đốc người Quảng Nam khác mà rất nhiều người biết ngay khi nghe đến tên, đó chính là Thi Sĩ Lưu Văn Mão. Lưu Văn Mão là một Thi Sĩ và cũng là một Mục Sư nữa. Mục Sư Lưu Văn Mão sinh ngày 12. 5. 1903 tại Huyện Quế Sơn, Tỉnh Quảng Nam. Đã hầu việc Chúa qua 10 Hội Thánh trải khắp ba miền đất nước. Cụ đã về yên nghỉ trong nước Chúa ngày 17. 7. 2000. Hưởng thọ 97 tuổi. Cụ Lưu Văn Mão sinh thời làm khá nhiều thơ để ca tụng Chúa. Có thể nói trên các tạp chí Cơ-đốc được xuất bản ở Việt Nam trước năm 1975, thơ của Mục Sư Thi Sĩ Lưu Văn Mão xuất hiện khá nhiều, khá đều và được bạn đọc đón nhận với lòng trân trọng.

Có thể dễ dàng nhận thấy rằng phần lớn những bài thơ của cụ Mục Sư Thi Sĩ họ Lưu là những bài thơ được làm theo thể thất ngôn bát cú Đường luật với niêm luật khá chặt chẽ, nhưng ý tứ vẫn đầy trọn vô cùng. Điều đó nói lên tài làm thơ Trời cho của cụ vậy. Tôi rất thích thú khi đọc bài thơ “Sự gieo giống” của cụ:

Nầy lời thí dụ hãy nghe theo:

Thiên Đạo dường như bốn hạng gieo
Giống rớt dọc đường chim đớp mất
Hột rơi đá sỏi nắng khô queo
May nhằm đất tốt bông trìu trịu
Rủi gặp gai đè gốc tẻo teo
Ai có Thánh Linh thì dễ hiểu
Nầy lời thí dụ hãy nghe theo!

Cụ dùng những từ “đớp mất”, “khô queo”, “trìu trịu” và “tẻo teo” thật “đắc địa” ở cuối các cặp thơ “thực” và “luận” lột tả được thật chính xác kết quả của “bốn hạng gieo”.

Cồn đây là ba bài thơ thất ngôn tứ tuyệt khác của Mục Sư Thi Sĩ:

Giê-Su quý báu biết dường nào
Danh hiệu của Ngài tuyệt đối cao
Dưới đất trên Trời đều chúc tụng
Toàn cầu thế giới mãi truyền rao.

(Danh cao quý)

Chẳng có ban mai, chẳng có chiều
Các vì tinh tú bỗng thâu tiêu
Ban đêm quả hẳn không còn nữa
Ấy cõi đời đời thật đáng yêu.

(Ngày đời đời)

Bính dần năm mới đón chào Xuân
Phước Chúa ban cho dạ rất mừng
Tất cả gia đình: Con, cháu, chắt
Ơn thiêng nhuần gội mãi không ngừng.

(Mừng Xuân Bính Dần)

Quả là Thi Sĩ có tài làm thơ thất ngôn. Lời và ý thơ đều sâu sắc, thể hiện lòng yêu Chúa, ngưỡng vọng Chúa vô hạn của nhà thơ.

Và đây là một bài thơ lục bát của cụ, bài “Tưởng nhớ Đấng Tạo Hoá”:

Trời cao, đất rộng mênh mông/ Chính tay Tạo Hoá ra công tạo thành/ Biển sâu, rừng rộng, non xanh/ Muôn loài hoá hoá, sanh sanh lạ lùng/ Công kia, khôn tả cho cùng… / Văn nhân chúc tạ, anh hùng tôn vinh/ Kìa, lời Kinh Thánh chứng minh/ Khuyên ai: kíp lấy “Tâm Linh” phụng thờ/ Hiện nay Ngài vẫn đương chờ/ Chớ nên chậm trễ, thì giờ qua đi/ Mấy lời xin nhớ gắn ghi!

Thơ lục bát bao giờ cũng nhẹ nhàng và dễ đi vào lòng người. Thơ lục bát dễ làm nhưng khó hay. Rất nhiều người làm thơ lục bát, nhưng để thơ của mình có thể “sống” được trong lòng bạn đọc và “sống” với thời gian, thì không dễ chút nào. Nguyễn Du, Nguyễn Bính là những bậc thầy về thơ lục bát của nước ta và vì thế mà nhiều người yêu thơ của họ, thuộc lòng thơ của họ.

Thơ lục bát của Thi Sĩ họ Lưu mà tôi vừa dẫn ở trên cũng thật đáng yêu và dễ đi vào lòng người, vì nó bày tỏ được tấm lòng chân tình của Thi Sĩ trong lời mời gọi mọi người tưởng nhớ Đấng Tạo Hoá của mình.

Tôi được nghe nhiều người nói Mục Sư Thi Sĩ Lưu Văn Mão là một trong những Mục Sư Thi Sĩ có biệt tài dùng thơ phú rất phù hợp trong khi giảng lời Kinh Thánh cho người nghe. Nhờ đó mà người nghe dễ ghi nhớ được bài giảng, dễ ghi nhớ được lời Chúa. Đó cũng là một ơn riêng Chúa ban cho cụ vậy. Mời bạn hãy nghe Mục Sư Phan Thanh Bình viết về ơn đó của cụ trong lời giới thiệu tập thơ “Ca Khúc Tâm Linh” của Tường Lưu như sau:

“Cụ Mục Sư Lưu Văn Mão là một Thi Sĩ biết tận dụng tài thi phú trong khi giảng luận Kinh Thánh. Thời thiếu niên tôi thường được nghe cụ giảng. Kết thúc mỗi phần bài giảng hay toàn bài giảng cụ thường đọc chậm rãi hai hay bốn câu thơ. Nhớ được hai hay bốn câu thơ, nhớ được điều cụ giảng dạy.”

Thú thật, tôi cũng rất thích, thậm chí mến mộ những Mục Sư nào khi giảng lời Chúa mà có thêm những câu thơ, đọan thơ hoặc bài thơ minh họa phù hợp với chủ đề bài giảng. Có được như thế tôi tin người nghe sẽ thích thú và sẽ nhớ được lời Chúa nhiều hơn, “giỏi” hơn. Bản thân tôi, khi giảng lời Chúa cũng hay trích đọc những câu thơ, đoạn thơ, bài thơ ưng ý phù hợp với chủ đề bài giảng để làm cho bài giảng thêm linh động và thêm sự phấn chấn nơi người nghe.

 

Một trong những nhà thơ mà tôi thường hay trích thơ để đọc khi giảng đó là Thi Sĩ Tường Lưu.

Tường Lưu, theo tôi, có lẽ là Thi Sĩ Cơ-đốc có bút lực mạnh mẽ nhất, cừ khôi nhất và … đáng nể nhất trong các nhà thơ Cơ-đốc mà tôi được biết. Bút lực mạnh mẽ nhất, vì đến nay ông đã cho ra đời không dưới 15 thi tập tâm linh, mỗi thi tập 100 bài. Tất cả đều … đọc được, và có rất nhiều những bài thơ hay. Quả là một…gia tài thơ  đồ sộ hiếm có. Tôi nghe mà … phục lăn. Nếu Chúa còn chưa cho ông “tung cánh thiên thần mà bay”(ý thơ của Tường Lưu-NV) về với Ngài thì không chừng ông sẽ còn cho ra đời vài thi tập tâm linh nữa cho mà coi. Hãy đợi đấy! Bút lực cừ khôi nhất, vì đã ngoài “thất thập cổ lai hy” lâu rồi mà vẫn đều đều xuất bản thơ hằng năm, hằng năm không ngơi nghỉ. Tôi chưa thấy ai cừ khôi như thế! Bút lực đáng nể nhất, vì ngòi bút thơ ông luôn luôn đi vào mọi ngõ ngách của cuộc đời con người chúng ta, không tránh né, nhất là những thói xấu của con người, đặc biệt là người Cơ-đốc trong chính ông mà cũng là của chính chúng ta nữa. Đọc thơ ông ta như thấy hình ảnh của chính mình trong đó. Thơ ông đáng đọc và đáng yêu là ở chỗ đó. Rất chân thật nhưng không trần trụi, thô thiển chút nào.

Thi Sĩ Tường Lưu tên thật là Lưu Văn Tường, quê Quảng Nam, là con trưởng nam của cụ Mục Sư Thi Sĩ Lưu Văn Mão. Ông bà ta nói, “Con nhà tông không giống lông cũng giống cánh”. Đúng vậy! Tường Lưu là con của một “cây đại thụ thơ Cơ-đốc” Lưu Văn Mão, nên ông đã nối gót được cha mình một cách xuất sắc trong lĩnh vực thơ ca Cơ-đốc, thậm chí…qua mặt luôn cả thân phụ của mình nữa.

Câu nói “Con hơn cha, nhà có phúc”, quả là không sai chút nào  trong trường hợp nầy!

Tôi may mắn có trong tay gần như đầy đủ mười mấy tập thơ tâm linh của Tường Lưu, vì mỗi lần ông ra một tập thơ mới, là ông đều … ưu tiên dành một tập tặng tôi với lời đề tặng thật quý hoá: “Kính tặng Mục Sư N.Đ.L. với cảm tình đặc biệt của Tường Lưu.” Hơn cả ngàn bài thơ tâm linh mà Tường Lưu đã sáng tác, tôi đã dành thì giờ đọc qua, có hàng trăm bài đọc lại và có hàng chục bài đọc qua đọc lại, rồi đọc lại đọc qua hoài mà không chán, đọc đến thuộc lòng, không quên được.

Tường Lưu làm thơ ở nhiều thể loại và có thể nói thể loại nào ông cũng thành công cả.

Thể thơ tám chữ là một trong những thể thơ dường như Tường Lưu … ưa làm nhất và có những bài thơ đọc thật “đã”. “Nếu Chúa hỏi” là một trong những bài thơ như thế:

Nếu Chúa hỏi: Tiệm ăn nào… ăn được?/ Con xin thưa, con biết mấy tiệm quen/ Thức ăn ngon đặc biệt, lại vừa tiền/ Tuy đông khách không phải lâu … chờ đợi/ Nếu Chúa hỏi: Đi chợ nào… có lợi?/ Con xin thưa, con biết mấy chợ gần/ Thịt cá tươi, rau trái mới, đủ hàng/ Mua ở đó rẻ hơn nhiều chợ khác/ … Nếu Chúa hỏi: Đi nhà thờ nào… phước?/ Con xin thưa, con không biết, Chúa ơi/ Con đã đi ba, bốn, năm, sáu, bảy, tám, chín… nơi rồi/ Con không biết đi nhà thờ nào phước/ Nếu Chúa hỏi: Tại sao không thấy phước? Con xin thưa, tại con hết… mà thôi/ Đi nhà thờ con cứ chỉ nhìn người/ Không nhìn Chúa nên con không thấy phước!

Một bài thơ tám chữ khác mà tôi đặc biệt thích, vì tác giả đã nói đúng ngay… tim đen của tôi, và chắc cũng là của chúng ta nữa, bài “Tôi … vô lý”:

Tôi không hiểu tại sao mình … vô lý/ Đi nhà thờ ngại ngùng quá … đường xa/ Nhưng bạn thân… nếu gọi, rủ đến nhà/ Vài chục dặm đi liền, không do dự!/ Tôi không hiểu tại sao mình … vô lý/ Mười đồng dâng cho Chúa … lớn làm sao!/ Nhưng khi tôi… đi bất cứ chợ nào/ Cầm mấy chục tôi thấy như … ít quá/ … Tôi không hiểu tại sao mình… vô lý/ Tin báo đăng là lập tức tin ngay/ Dù là tin… rất có thể… tin sai/ Nhưng lời Chúa, tôi từng nêu thắc mắc/ Nếu bạn cũng giống tôi, mình … cùng loại/ Vì đức tin chưa đạt mức trưởng thành/ Đến bao giờ ta vui vẻ … thưa rằng: Ở dưới đất, con ước chi… ngoài Chúa!

Còn về thơ lục bát, Tường Lưu cũng có nhiều bài hay, “Làm thơ tặng Chúa” là một trong những bài thơ mà tôi cho rằng “hay nhất trong những bài thơ hay nhất của Tường Lưu”:

Chúa ơi, Chúa có thích thơ?/ Con làm tặng Chúa bây giờ được không?/ Chúa cười, Chúa bảo: Hãy làm/ Nếu là chân thật, Ta ban phước nhiều/ Không yêu, mà nói rằng yêu/ Coi chừng, giả dối là điều không nên!/ Những thơ thiên hạ dâng lên/ Ta nghe nhàm lắm, ngợi khen… bề ngoài!/ Trăm người không được một người/ Có lòng chân thật như lời thơ đâu!/ Lặng yên, tôi đứng cúi đầu!

Làm thơ tặng Chúa, một ý nghĩ thật độc đáo mà ít ai dám nghĩ ra, dường như chỉ có ở Tường Lưu Thi Sĩ. Lúc đầu thì  có vẻ hăm hở lắm, tưởng rằng lần nầy mình sẽ có cơ hội…nhả ngọc phun châu cho Chúa biết … tài thơ của mình, nhưng sau khi nghe Chúa nói một chặp, và nói đúng … tim đen của mình, thì sự hăm hở tan biến mất, cuối cùng Thi Sĩ chỉ lặng yên đứng cúi đầu trước Chúa, không có bài thơ nào, câu thơ nào để tặng Chúa cả. Thi Sĩ “hạ” được câu kết của bài thơ tuyệt hay.

Những bài thơ bảy chữ bốn câu của Thi Sĩ cũng khiến tôi yêu thích vô cùng:

Kinh Thánh giở ra trang nối trang
Lời Chúa khuyên ta hàng tiếp hàng
Tâm vẫn không an, lòng vẫn nặng
Vì sao?
Vì vướng cái trần gian!

(Vướng cái trần gian)

Vững bước mà đi, cuộc lữ hành
Đường đời gai góc bủa vây quanh
Ta đi không mỏi trên thiên lộ
Ánh sáng Tin lành vững bước chân.

(Vững bước mà đi)

Với ai thì không biết, nhưng với tôi, thơ Tường Lưu như thể trở thành một phần không thể thiếu trong tâm tôi, trong chức vụ hầu việc Chúa của tôi. Bất cứ khi nào có dịp tiện phù hợp là tôi … khoe thơ Tường Lưu ngay. Tôi rất vui mừng vì quê hương Quảng Nam của tôi Chúa đã cho có được một nhà thơ tài hoa như thế. Không tài hoa sao được, ngoài cả ngàn bài thơ tâm linh ông đã làm để ca ngợi Chúa, Tường Lưu Thi Sĩ trước đó còn có làm…thơ tình nữa(tập thơ “Mộng ban đầu”). Thi Sĩ cũng là một dịch giả uy tín với tập “Tìm lại hương xưa”, dịch 148 bài cổ thi của các thi nhân danh tiếng Trung Hoa xưa. Được biết, Tường Lưu cũng rất thông thạo Anh ngữ và Pháp ngữ.

Cảm tạ Chúa về một tài năng thơ lớn của người Cơ-đốc chúng ta: Tương Lưu!

 

Nói đến những Thi Sĩ Cơ-đốc người Quảng Nam mà không nói đến Thi Sĩ Thanh Hữu thì quả là một thiếu sót…không thể tha thứ.

Thanh Hữu (TH) tên thật là Nguyễn Hữu Trang. Ông là một Mục Sư và ông cũng là một Thi Sĩ nữa.

Trong số các nhà thơ Cơ-đốc được sinh ra từ vùng đất “Quảng Nam chưa mưa đà thấm” của miền Trung nước Việt mà tôi mến mộ và kính nể, có Nhà Thơ Thanh Hữu.

TH là một Nhà Thơ Cơ-đốc có một tiếng thơ độc đáo, đáng để chúng ta tìm đọc và …thưởng thức.

Tôi đọc được thơ TH hơi trễ, nhưng một khi đã …khám phá ra được đây là một tiếng thơ độc đáo là tôi bắt đầu …ghiền đọc thơ TH cho đến nay.

Không biết cho đến nay, TH đã cho ra mắt được mấy tập thơ rồi, ngoài những tập thơ tôi đã biết như “Nắng Đã Lên Rồi”, “Cất Cánh Bay Cao”, và “Bên Dòng Nước”? Nhưng khi …nhấp chuột vào trang Vietchristian.com, một trong những trang mạng Cơ-đốc mà tôi thường …viếng thăm, chọn mục “Thơ” và tìm tên Thanh Hữu, là tôi thấy hàng trăm, hàng trăm  bài thơ của TH xuất hiện trên đó. Qua đó, tôi biết TH có một sức sáng tác rất mạnh, rất dồi dào, và rất phong phú.

TH đã bắt đầu làm thơ từ hồi rất lâu, từ thời còn học trung học cho đến nay đã vượt qua tuổi … ”thất thập cổ lai hy” lâu rồi, vẫn tiếp tục … nhả tơ tâm linh cho người, cho đời, khích lệ được nhiều người tin cũng như chưa tin Chúa trên con đường hướng về một tương lai đầy hy vọng cho chính mình, cho người khác và cho cả quê hương, dân tộc nữa. Thật đáng nể!

Mời bạn thưởng thức một số những vần thơ của Nhà Thơ TH nhé:

Nắng đã lên rồi em ngắm xem/ Mà sao cây lá rũ khô mềm/ Đông-âu hoa cỏ tưng bừng nở/ Mà ở quê mình rét buốt thêm/ Nắng đã lên rồi em biết không? Bao năm chờ đợi mắt hao mòn/ Mong cho hơi ấm tràn quê cũ/ Sưởi ấm tâm hồn em héo hon/ Nắng đã lên rồi em khẩn xin/ Hồng ân Thiên Chúa ngập quê mình/ Xua tan tuyết lạnh vào hư ảo/ Kết tụ hương lành nắng Phục sinh. (Nắng đã lên rồi)

Những vần thơ trần đầy hy vọng về tương lai cho nước Việt Nam yêu dấu của chúng ta. Vâng, TH rất có lý khi ước mong “nắng” lên trên quê hương của mình, như “nắng” đã lên rồi ở nhiều nơi khác đem lại “ấm áp” cho biết bao người.

Với sự phát triển chậm chạp của đạo Chúa, TH cũng sốt ruột, nóng lòng vì những rào cản không đáng có đang làm chậm lại đà phát triển của Tin Lành trên quê hương thân yêu khi so sánh với những nước trong cùng khu vực:

Sao em mằm mãi trong nôi?/ Tin Lành Nam Việt lâu rồi y nguyên?/ Mẹ cha đã tốn nhiều tiền/ Mua sắm áo tốt, góp quyên nhà thờ/ Em có cơ sở nên thơ/ Khang trang rộng rãi bây giờ tiện nghi/ Nhưng buồn em vẫn chưa đi/ Trong nôi nằm mãi biết khi nào ngừng?/ Trăm năm làm lễ ăn mừng/ Buồn lòng, không lớn, chưa từng biết đi/ Bịnh tật “bảo thủ” căn di/ Nằm nôi cứ tưởng Ê-li lên trời. (Nằm mãi trong nôi)

Tin Lành đã đến Việt Nam chúng ta đến nay (năm 2021) là 110 năm hơn rồi, nhưng sự phát triển của Đạo Chúa thật chậm chạp, vì “căn bệnh bảo thủ” thâm căn cố đế, vì hàng rào hệ phái, vì những tư tưởng ấu trĩ, lạc hậu của một số người cứ cho mình, hệ phái mình là…số một, là…chính giáo, còn tất cả đều là…tà giáo. Đó là một sự thật đáng buồn cần phải được loại bỏ càng sớm càng tốt để Tin Lành của Chúa được phát triển mạnh mẽ như đáng phải có trên quê hương thân yêu của chúng ta.

Có thể nói, TH có biệt tài về làm thơ tám chữ, những bài thơ tám chữ xuất hiện với tầng suất khá nhiều trong thơ ông. Độc giả sẽ thưởng thức được nhiều những bài thơ tám chữ thật hay và ý nghĩa thật sâu của TH, vì lối thơ nầy cho Thi Sĩ một… không gian rộng mở hơn để bày tỏ cảm xúc của mình. Một trong nhiều những bài thơ tám chữ mà tôi rất thích thú là bài “Thời gian và cơ hội”, vì nó …đánh động con tim và khối óc của chúng ta khi suy tư về cuộc đời mà Đức Chúa Trời đã ban tặng cho mỗi một người trong chúng ta:

Mỗi phút sống, cơ hội ta còn đó/ Còn trên đời, còn dịp tiện ăn năn/ Còn thời gian tin nhận Chúa vĩnh hằng/ Còn ân điển, đầu tư vào vĩnh phúc/ Ta hoang phí, thời gian cho trần tục?/ Cho sang giàu, cho chức tước, công danh ?/ Cho hơn thua, cho đố kị tranh giành ?/ Thời gian hết, ta buồn than hối tiếc/ Thời gian sống, là thời gian ưu việt/ Đầu tư vào cõi vinh hiển nghìn thu/ Hãy tránh xa địa ngục chốn lao tù/ Lửa thiêu đốt không bao giờ chấm dứt/ Hãy vui sống trong tình yêu chân thực/ Trong vui mừng, ân sủng Chúa ngàn khơi/ Ngày mai đây vào trong cõi đời đời/ Ta hớn hở hoan ca bài đắc thắng. (Thời gian và cơ hội)

Hay trong một bài khác, ta cũng thấy được đầu óc liên tưởng của Thi Sĩ thật linh hoạt, tuyệt vời:

Ta kết nối, với “email” bầu bạn/ Với nhiều người, qua “facebook”, “twitter”/ Gọi viễn liên, qua “Whatsapp”, “Viber”/ Ta tìm kiếm, qua “Google research”… / Văn minh người, chỉ giúp ta thấy được/ Sự vận hành thay đổi ở trần gian/ Những thành công, thất bại, những suy tàn/ Rồi vô vọng biến tan vào cát bụi/ Văn minh Chúa, đem ta vào kết nối/ Từ cõi trần đến với cõi siêu nhiên/ Từ trần gian, đến vinh hiển thượng thiên/ Từ giới hạn đến muôn đời vĩnh phúc. (Kết nối “ứng dụng” tâm linh)

Một trong những bài thơ của TH làm cho ta khi đọc đến đều không thể không…giưt mình và suy nghĩ về trách nhiệm rao giảng Tin Lành của mỗi một con dân Chúa người Việt ở khắp mọi nơi:

Tôi đang đứng giữa Sài Thành đô hội/ Nhìn tàu xe tràn ngập khắp nẽo đường/ Từng đoàn người chen chúc khói bụi sương/ Mãi lướt tới không bao giờ chấm dứt/ Tôi tưởng tượng, dòng thác người đông đúc/ Đang tụ về, đang chảy đến hư vô/ Ngày mai đây, họ sẽ đến nơi nào?/ Khi thác đổ, hồn trôi về hỏa ngục/ Tôi lặng đứng, nghe tim mình rung động/ Hồn u buồn, lòng tràn ngập xót xa/ Mắt rưng rưng, đôi mi ướt lệ nhòa/ Kêu vang Chúa, Ngài ơi xin thương xót/ Hơn trăm năm, quê hương con có được/ Một Tin Lành cứu rỗi thật quyền oai/ Nhưng lòng người vẫn xa lánh lạc loài/ Vẫn vô tín, vẫn thờ ơ chối Chúa. (Dòng thác người… đang chảy đến hư vô)

Theo tôi, thơ tám chữ của TH có một sức lôi cuốn người đọc cách kỳ lạ. Cụ thể với tôi, mỗi khi đọc thơ TH, tôi đều… được những bài thơ tám chữ của thi sĩ cuốn hút, đọc một bài thì cứ thế muốn đọc tiếp nữa, tiếp nữa, khó dừng lại được.

Cảm tạ Chúa về hồn thơ phong phú mà Chúa ban cho  Mục Sư Thi Sĩ Nguyễn Hữu Trang Thanh Hữu!

 

Mục Sư Đinh Thống cũng là một tâm hồn thơ Cơ-đốc đáng quý của quê hương Quảng Nam. Mục Sư Đinh Thống sinh năm 1931 tại làng Hạ Nông, Xã Điện Phước, Huyện Điện Bàn, Tỉnh Quảng Nam. Tin Chúa năm 1949. Được phong Mục Sư năm 1969. Mục Sư từng được giữ chức vụ … cao nhất là Chủ tịch Hội Đồng Giáo Phẩm Hội Thánh Tin Lành Việt Nam(MN), nhiệm kỳ 2002-2006. Hiện nay, Mục sư đã cao tuổi và hưu hạ, cụ đang sống với các con của mình tại Việt Nam.

Mục Sư Đinh Thống làm thơ không nhiều, nhưng có thể nói những bài thơ mà Mục Sư đã làm được đều là những bài thơ “đọc được” và khá thú vị. Một trong những bài thơ nổi tiếng đã làm nên tên tuổi của Thi Sĩ Đinh Thống, theo tôi, là bài “Chức Truyền Đạo”:

Chức vụ nào hơn chức vụ này
Chức ban từ Chúa lớn lao thay!
Chức trong vui, khổ, lòng trung tín
Chức dẫu buồn, vinh, dạ thảo ngay
Chức gánh hồn linh, mòn mỏi gối
Chức mang nhân thế, nặng nề vai
Chức không ưa chuộng đời cung lộc
Chức hưởng từ Cha sống mỗi ngày.

Đây là một bài thơ thất ngôn bát cú với lời lẽ súc tích, đầy ý nghĩa. Bằng việc lặp lại có chủ đích từ “chức” ở đầu tám câu thơ, tác giả đã thể hiện được một chức vụ cao quý-Chức Truyền Đạo của Đức Chúa Trời, mà không một chức vụ nào của trần gian sánh bằng. Bài thơ đã được truyền tụng trong vòng nhiều tôi, con Chúa và có nhiều người đã thuộc lòng bài thơ nầy. Điều đó chứng tỏ sức sống thật của bài thơ vậy.

Ngoài bài thơ nổi tiếng trên, Mục Sư Đinh Thống có làm một số bài thơ khác và hầu hết đều là thơ thất ngốn bát cú như “Chuyến xe Phi Long”, “Tin Lành với Tam Quan”, “Nhớ Sông Cầu”, “Nhớ bạn”, “Thơ chúc Tết”… Trong số các bài thơ ấy, “Nhớ Sông Cầu” là một bài thơ khá hay:

Ao ước trong lòng đã bấy lâu
Hôm nay có dịp viếng Sông Cầu
Thương thương mặt biển anh chài lưới
Nhớ nhớ dòng sông chú thả câu
Tín hữu mến yêu còn ở đó
Lân bàng quen thuộc có đi đâu?
Bâng khuâng hồi tưởng năm năm trước
Thật, Chúa yêu tôi chức vụ đầu.

Phải chăng bài thơ hay là ở tính chất…hoài cổ của nó. Có dịp được thăm lại nơi mình từng đã chăn bầy chiên trước đó, nên bao cảm xúc ùa về trong tâm hồn và thế là Mục Sư … xuất khẩu thành bài thơ hay nầy?

Có nhiều người làm nhiều thơ, nhưng không thể trở thành nhà thơ vì không có bài thơ nào “đọng” lại được trong lòng bạn đọc. Ngược lại, có người làm thơ không nhiều, nhưng lại có những bài thơ được bạn đọc mến mộ và thuộc lòng. Mục Sư Đinh Thống thuộc hạng thứ hai. Và ông xứng đáng với danh hiệu là một Thi Sĩ Cơ-đốc.

 

Hồ Thi cũng là một Nhà Thơ Cơ-đốc xứ Quảng  mà chúng ta không thể không nhắc đến tên ông.

Ông nguyên là tín đồ thuộc Hội Thánh  Tin Lành Thăng Bình (Xã Bình Tú); sau đó, vào những năm 80 của thế kỷ trước, cả gia đình ông di cư vào Bình Thuận để làm ăn, sinh sống tại đó, và sinh hoạt đạo tại Hội Thánh  Tin Lành Phúc Âm cho đến khi ông qua đời về trong “Miền Vinh Hiển” phước hạnh.

Thi Sĩ Hồ Thi làm khá nhiều thơ. Nếu tôi nhớ không lầm, ông đã từng có thơ đăng trên Thánh Kinh Báo trước 1975. Và sau 1975, ông cũng có làm khá nhiều thơ. Ông làm thơ khá dễ dàng ở nhiều thể loại khác nhau; nhưng có thể nói ông có sở trường về thơ bảy chữ, tám chữ hơn cả.

Hồ Thi Thi Sĩ hay có thơ đăng trên Tập San Thông Công do Bút Nhóm Lửa Hồng phụ trách, được xuất bản trong khoảng thời gian từ giữa những năm 80 đến năm 2000 của thế kỷ trước.

Thời gian đó, nhà cầm quyền cấm tiệt mọi loại sách báo tư nhân, nhất là các loại sách báo Cơ-đốc, nên một số anh em, con cái Chúa đã âm thầm họp lại trong…bí mật để làm Tập San Thông Công với mục đích để phục vụ cho nhu cầu tâm linh của tôi, con Chúa gần xa trong lúc cực kỳ khan hiếm…thức ăn tinh thần Cơ-đốc lúc bấy giờ. Cho nên, ở trang đầu của Tập San lúc ấy luôn xuất hiện hai câu thơ…dễ thương mà nhiều người ngày nay khi nhắc đến Thông Công đều còn nhớ, là:

Thông Công nối nhịp gần xa

Lửa Hồng khơi dậy lòng ta thêm hồng.

Thi Sĩ Hồ Thi đã có thơ đăng trên Thông Công khá nhiều, bài thơ sau đây là một trong những bài thơ tôi còn lưu giữ lại được:

Đọc Thông Công tôi rất thỏa lòng

Và chắc nhiều người cũng ước mong

Thông Công luôn đến trong tay họ

Thỏa nỗi khát khao đã chờ trông

Tôi muốn dự phần với Thông Công

Lời thơ mộc mạc ở ruộng đồng

Hơn nữa tuổi già ngoài bảy chục

Ca ngợi danh Ngài thỏa ước mong

Thông Công với Bút Nhóm Lửa Hồng

Bừng cháy lan tràn khắp non sông

Giữ vững lòng tin bao bạn trẻ

Thêm lòng yêu Chúa một số đông

Xin chúc Thông Công thọ dài dài

Lửa Hồng càng viết sức càng dai

Để bắt nhịp cầu cùng khắp chốn

Soi ra ánh sáng của Thiên đài.

Bài thơ nói lên tấm lòng khao khát được đọc Thông Công của Nhà Thơ và cũng cho thấy tình thân quý báu của Nhà Thơ dành cho Thông Công. Ông xem Thông Công như là người bạn thân thiết của mình vậy. Ông luôn mong “Thông Công thọ dài dài”, “Lửa Hồng càng viết sức càng dai”!

Thật không còn gì vui hơn cho Thông Công và Bút Nhóm Lửa Hồng lúc bấy giờ khi có những cộng tác viên đầy nhiệt huyết và yêu thơ như Thi Sĩ Hồ Thi!

Để có tư liệu viết về Nhà Thơ Hồ Thi trong bài viết nầy, tôi có liên lạc những người con của cụ, nhưng rất tiếc là vì bận việc, chưa có được sự hồi đáp; nên ngoài bài thơ trên, tôi không còn lưu giữ được bài thơ nào của Nhà Thơ Hồ Thi nữa.

Thật tiếc!

Hy vọng, sẽ có dịp giới thiệu với bạn đọc nhiều hơn về thơ của Thi Sĩ Hồ Thi trong tương lai.

 

Một trong những Thi Sĩ xuất hiện trên thi đàn Cơ-đốc chưa lâu, nhưng để lại những…dấu ấn thơ khá đậm nét trong lòng những người yêu thơ gần xa. Người đó chính là Hồ Galilê.

Hồ Galilê tên thật là Hồ Xuân Được, quê quán ở tại Xã Đại Quang, Huyện Đại Lộc, Tỉnh Quảng Nam. Ngoài bút hiệu là Hồ Galilê, ông còn có bút hiệu khác  khá…thơ mộng, đó là Hồ Thi Thơ.

Hồ Galilê làm thơ khá đều, và làm ở nhiều thể loại khác nhau. Thơ Hồ Galilê đã được đăng trên nhiều trang mạng Tin Lành khác nhau như Hoithanh.com, Songdaoonline.com, Nguonsuoitamlinh.net, httlvinhphuoc.org…

Tôi rất thích khi đọc bài thơ “Nghĩa trang chiều tím” của Hồ Galilê, vì bài thơ chứa đầy tâm trạng nhớ thương người Mẹ kính yêu của mình:

Ô hay! Chiều tím giăng mây
Cho ngày Lễ Mẹ đong đầy nhớ thương
Con đi viếng mộ ven đường
Gập ghềnh suối đá thoảng hương gió trời.

Mẹ nằm đây giữa đồi khơi
Hoa mua tim tím ngập trời bông trang…
Hôm nay ngày Lễ Mẫu thân
Con về viếng mộ bần thần trong tâm
Ngậm ngùi trong mối tình thâm
Nghĩa tình mẫu tử âm thầm khơi lên!
Ngồi bên bia mộ đọc tên
Nghe con dế gáy sầu lên cung đàn
Nghĩa trang chiều tím mê hoang
Hoen mi dòng lệ… lá vàng nhẹ rơi.

(Nghĩa trang chiều tím)

Tác giả đi viếng mộ Mẹ, ngồi trước mộ đọc bia mộ Mẹ, thầm gọi tên Mẹ, nhớ Mẹ mà nước mắt hoen mi, lòng đầy xúc động khi nghĩ về Mẹ dấu yêu với những ký ức không thể nào quên. Màu tím cộng với nỗi nhớ da diết về Mẹ đã làm cho bài thơ càng trở nên cảm động hơn, “Hoen mi dòng lệ…lá vàng nhẹ rơi.”

Nhưng có một điều khác, rất khác giữa người tin Chúa và người không tin Chúa, ấy là dù người thân mình có qua đời, không còn ở với mình nữa, không còn ở bên mình nữa, nhưng đó chỉ là một thời gian tạm biệt mà thôi, chứ không phải là vĩnh biệt. Vì biết rằng, một ngày nào đó trong tương lai, khi mình được Chúa đưa về yên nghỉ trên Thiên đàng, hoặc khi Chúa trở lại, thì mình sẽ được gặp lại những người thân yêu của mình ở nơi phước hạnh ấy trong vui mừng, sung sướng không thể tả. Còn người không tin Chúa, thì khi qua đời phải ở nơi hồ lửa đời đời đau khổ không nguôi:

Nhưng con tin Chúa trên Trời
Mẹ đang an nghỉ nước Trời bình yên
Lòng con nung nấu lửa thiêng
Biết chưng Mẹ sống trên miền Lạc cung.

(Nghĩa trang chiều tím)

Ở một bài thơ khác viết về mùa Thu, Hồ Galilê đã đem đến cho người đọc một xâu chuỗi những phước hạnh đến từ Chúa như khiến người ta không thể không chú ý như:LỜI CHÚA, TIẾNG CHÚA, DANH CHÚA, TÌNH CHÚA, Ý CHÚA, VIỆC CHÚA, ƠN CHÚA, và cuối cùng là PHƯỚC CHÚA, TIM CHÚA, rồi NHẬN CHÚA qua điệp khúc “Em có nghe chăng sáng nay thu về”. Xin trích mấy đoạn thơ cuối:

Em có nghe chăng sáng nay thu về!
Vườn thu cây trái mọng ước sum sê
Và em có nghe PHƯỚC CHÚA tràn trề
Hỡi người nhân thế Chúa thu đang về.

Em có nghe chăng sáng nay thu về!
Tình yêu Thiên Chúa chết thế muôn dân
Và em có nghe TIM CHÚA bao lần
Rỉ máu giáo đâm âm thầm tha thứ.

Em có nghe chăng sáng nay thu về!
Chúa thu trọn lành làm đẹp thế nhân
Và em có nghe NHẬN CHÚA riêng mình
Thì thầm với Chúa… Chúa thu đang về!

(Em có nghe chăng sáng nay thu về)

Xin Chúa cho Thi Sĩ Hồ Galilê sẽ được Chúa tiếp tục dùng để sáng tác thêm được nhiều bài thơ khác nữa, góp phần ca ngợi Chúa và khích lệ người khác trên linh trình theo Chúa!

 

Ngoài những Thi Sĩ trên, ở Quảng Nam còn có những tâm hồn thơ khác mà thơ họ đã được đăng ở nhiều tờ báo và trang mạng Cơ-đốc trong và ngoài nước, ít nhiều được bạn đọc yêu thơ Cơ-đốc gần xa biết đến. Có thể kể như: Nhà Thơ Lưu Tụy, Phan Nhứt Thuyên, Mục Sư Thi Sĩ Võ Đình Đán, Tú Ngọc Phô, Bình Tú Ngọc…

Xin được giới thiệu đến bạn đọc gần xa một số những gương mặt thơ Cơ-đốc người Quảng Nam để chúng ta cùng thưởng thức và cùng dâng lời cảm tạ Chúa, vì Ngài đã ban cho mảnh đất Quảng Nam nầy có những tâm hồn thơ đáng yêu như thế để làm thơ ca ngợi Chúa kính yêu của chúng ta.

Người viết bài nầy tin chắc rằng, còn có nhiều Thi Sĩ Cơ-đốc  người Quảng Nam khác mà người viết, do tầm nhìn hạn hẹp của mình, có lẽ chưa được biết đến để giới thiệu hoặc nhắc đến tên trong bài viết.

Rất mong một sự rộng lượng tha thứ từ những Thi Sĩ Cơ-đốc người Quảng Nam mà tôi chưa hân hạnh được biết để giới thiệu, hoặc nhắc đến tên!

Người viết cũng có dự định trong tương lai, nếu Chúa cho phép, và nếu Chúa cho còn sống, thì sẽ viết một tập sách về những gương mặt thơ Cơ-đốc người Quảng Nam để giới thiệu với quý độc giả gần xa.

Hy vọng Chúa sẽ thương xót và cho dự định đó sẽ thành hiện thực trong thời điểm của Ngài!

Nguyện Chúa cứ tiếp tục ban ơn trên những Thi Sĩ Cơ-đốc tại Quảng Nam, nói riêng, và trong cả nước, nói chung, để họ tiếp tục sáng tác những bài thơ ca ngợi Chúa, khích lệ đức tin cho nhiều tôi, con Chúa khắp nơi.

Thi Sĩ Tường Lưu có một câu thơ mà tôi nhớ mãi:

“Ca ngợi Chúa, làm thơ, nên, nên quá!”

Vâng, làm thơ để ca ngợi Chúa là điều rất nên, nên làm.

Ước ao Chúa cho có nhiều tôi, con Chúa góp phần làm thơ để ca ngợi Chúa của chúng ta, vì Ngài và chỉ một mình Ngài rất xứng đáng để chúng ta ca ngợi mãi mãi trong cuộc đời nầy và cả trong cõi đời sau nữa.

Tôi rất yêu mấy câu thơ của Đại Thi Hào Đa-vít ngày xưa trong Thi-thiên 146 như sau:

“Trọn đời sống tôi sẽ ngợi khen Đức Giê-hô-va.

Hễ tôi còn sống chừng nào, tôi sẽ hát xướng cho Đức Chúa Trời tôi chừng nấy.”

Đó phải là tâm niệm của mỗi một con dân Ngài vậy!

Quảng Nam, Hè 2011 và California Hè 2021

Mục sư Nguyễn – Đình – Liễu

KHÔNG SỢ KHÔNG KINH KHIẾP 

Thơ: Thanh Hữu

Hỡi bầy nhỏ, đừng sợ chi; vì Cha các ngươi đã bằng lòng cho các ngươi nước thiên đàng. (Lu-ca 12:32 )

Khi ta sống ở trần gian,
Biết bao nguy hiểm, gian nan trên đời.
Lửa hừng, thú dữ, biển khơi
Chiến tranh, dịch lệ, không nơi an toàn.

Tìm đâu một chỗ bình an?
Giữa bao khủng hoảng trăm ngàn rủi ro.
Trong tình yêu Chúa khôn dò,
Tay Chúa bồng ẵm không lo lắng gì.

Dân Chúa mạnh dạn bước đi,
Giữa lòng Hồng Hải hiểm nguy sóng tràn.
Như đường xa lộ thênh thang, [1]
Tru mây trụ lửa dẫn đàng trên không.

Ba thanh niên, giữa lửa hồng,
Cùng bước với Chúa đều không hại gì. [2]
Đa-ni-ên đã bước đi,
Giữa hang sư tử, hiểm nguy không còn. [3]

Môn đồ bão tố tấn công,
Đồng thuyền với Chúa quyết không hãi hùng.
Lời Ngài uy lực khôn cùng,
Dẹp tan sóng gió, nhìn trùng lặng yên. [4]

Cuộc đời dù lắm truân chuyên,
Dù bao thử thánh đảo điên quanh mình.
Lắng nghe tiếng Chúa Thánh Linh, [5]
Dìu ta qua khỏi hành trình cam go.

Tình yêu thương xót khôn dò,
Chúa luôn căn sóc, ban cho năng quyền.
Ta nhận sức mới thượng thiên,
Hoàn thành mục đích uyên nguyên Chúa Trời.

Nhìn lên gió thoảng mây trôi,
Trông ngày Chúa đến núi đồi nở hoa.
Quyền năng biến hóa thân ta,
Cất lên gặp Chúa, thiên hà reo vang.

THANH HỮU
Tháng 7 năm 2021

[1] Xuất Ê-díp-tô Ký 14:22-29
[2] Đa-ni-ên 3:25-26
[3] Đa-ni-ên 6:22-23
[4]  Mác 4:39
[5] Công-vụ các Sứ-đồ 8:29

Sống Xứng Đáng

Thơ: Tiểu Minh Ngọc

“… phải ăn ở một cách xứng đáng với chức phận mà Chúa đã gọi anh em, phải khiêm nhường đến điều, mềm mại đến điều, phải nhịn nhục, lấy lòng thương yêu mà chìu nhau” – Ê-phê-sô 4:1-2
“Hỡi người! Ngài đã tỏ cho ngươi điều gì là thiện; cái điều mà Đức Giê-hô-va đòi ngươi há chẳng phải là làm sự công bình, ưa sự nhân từ và bước đi cách khiêm nhường với Đức Chúa Trời ngươi sao?” – Mi-chê 6:8
“Mỗi người trong anh em chớ chăm về lợi riêng mình, nhưng phải chăm về lợi kẻ khác nữa.” – Phi-líp 2:4
“Hỡi Đức Giê-hô-va là hòn đá tôi, và là Đấng cứu chuộc tôi, Nguyện lời nói của miệng tôi, Sự suy gẫm của lòng tôi được đẹp ý Ngài!” – Thi-thiên 19:14

Làm người cần biết điều quan trọng,
Đối xử với nhau, sống thỏa lòng,
Thương xót, nhân từ, không tính toán,
Tranh dành tấc đất, có nên không?

Mai kia Chúa đến, làm sao nói?
Ăn ở với nhau, phải thuận hòa,
Xứng đáng làm dân, Ngài quý mến,
Chớ đừng hổ thẹn, đến Danh Cha!

Khiêm nhường hết sức, và mềm mại,
Nhịn nhục, chìu nhau, trọn tháng ngày,
Phục vụ tha nhân, theo gương Chúa,
Tin Lành vinh hiển, mãi không phai!

Hãy nên nghĩ đến, người lân cận,
Hãy sống cho nhau, vì lợi người,
Hiệp một hướng về, Nhà Thiên Quốc,
Bình an, phước hạnh, sẽ không vơi!

Nguyện xin Linh Chúa, luôn gìn giữ,
Hướng dẫn đời con, miệng lưỡi này,
Tư tưởng của lòng, đẹp Ý Thánh,
Truyền ra Ân Điển, hiển vinh thay!

Tiểu Minh Ngọc