TẾT CỦA TRẦN GIAN, TẾT THIÊN ĐÀNG

Thơ: Bình Tú Ngọc

Kinh Thánh: II Cô-rinh-tô 5: 17

Tưng bừng đón Tết những ngày qua
Tết đến đem vui tới mọi nhà
Ba ngày Tết đẹp qua mau quá
Mới đó mà đây Tết đã xa…

Tết nhắc thời gian của đời người
Trôi qua nhanh lắm chẳng phải chơi
Mới ngày nào mình còn niên thiếu
Mà giờ đây quá nửa cuộc đời *

Tết của trần gian đến rồi đi
Xoay vần theo luật định chu kỳ
Không đón Tết nầy thì Tết khác
Miễn mình còn sống chẳng lo chi…

Tết của Thiên Đàng là vĩnh cửu
Mãi mãi mừng vui với Chúa Trời
Miễn là đời nầy ta tin Chúa
Mới luôn, Tết mãi chẳng hề ngơi **

Tết của đời nầy là Tết tạm
Để nhắc cho ta Tết Thiên Đàng
Vui Tết trần gian ta cần nhớ
Có Chúa Giê-su, Tết huy hoàng…

Mừng Tết Nguyên Đán 2024!
Bình Tú Ngọc

* Đến Tết Nguyên Đán 2024, mình được sáu mươi ba tuổi
** II Cô-rinh-tô 5: 17

TẾT ĐẾN NHẮC TA…

Thơ: Bình Tú Ngọc

Kinh Thánh: Ê-phê-sô 4:22; II Cô-rinh-tô 4: 16; Khải Huyền 21:1

Tết đến nhắc ta đổi mới mình
Thoát lốt người cũ để tái sinh 1
Cách ăn nết ở cũ cần bỏ
Làm mới trong tâm nhớ đinh ninh…

Tết đến nhắc ta sự đổi thay
Làm mới bề trong mỗi một ngày 2
Nếp sống thanh sạch nhờ Lời Chúa 3
Làm con của Chúa sống thẳng ngay…

Tết đến nhắc ta sự ngợi ca
Hát bài ca mới cho Chúa Cha 4
Vì Ngài làm những việc kỳ diệu
Ca tụng danh Ngài chẳng phôi pha…

Tết đến nhắc ta ở trong Ngài
Sẽ được nên mới chẳng hề sai 5
Mọi sự xưa cũ đều qua hết
Mới mẻ trong ngoài mãi không phai…

Tết đến nhắc ta hướng tương lai
Trời mới đất mới ở Thiên Đài 6
Nơi Chúa Giê-su đà sắm sẵn
Cho ta được ở đó lâu dài…

Tết đến nhắc bạn lời thiết tha
Mọi sự trên đất rồi sẽ qua 7
Nhưng ai làm theo ý muốn Chúa
Còn mãi đời đời ở Thiên Hà…
Mồng 1 Tết Nguyên Đán 2024!

Bình Tú Ngọc

1 Ê-phê-sô 4: 22
2 II Cô-rinh-tô 4: 16
3 Giăng 17: 17
4 Thi-thiên 98:1
5 II Cô-rinh-tô 5: 17
6 Khải Huyền 21: 1
7 I Giăng 2: 17

NĂM THÌN, NÓI CHUYỆN…RỒNG

Văn: MS Nguyễn Đình Liễu

*Kinh Thánh: Gióp 41: 24, 25; Thi-thiên 74: 13, 14; Ê-sai 27: 1; Khải Huyền 12: 7-9; 20: 1-3

Theo Âm lịch ở một số nước Á-Đông như Trung Quốc, Việt Nam thì năm 2024 nầy người ta gọi là năm Giáp Thìn, tức năm con Rồng.

Rồng là một con vật hiện diện trong 12 con giáp của năm Âm Lịch, gồm: Tý (Chuột), Sửu (Trâu), Dần (Cọp), Mẹo (Mèo), Thìn (Rồng), Tỵ (Rắn), Ngọ (Ngựa), Mùi (Dê), Thân (Khỉ), Dậu (Gà), Tuất (Chó), và Hợi (Heo).

Người ta định nghĩa về rồng như sau: “Rồng là động vật tưởng tượng theo truyền thuyết, mình dài, có vẩy, có chân, biết bay, được coi là cao quý nhất trong các loài vật.” 1

Tục Ngữ, Ca Dao nói về…rồng khá nhiều:

+ Người Việt tự đề cao mình là “Con Rồng, cháu Tiên” (chỉ dòng giống cao quý như Rồng, như Tiên)

+ Rồng bay phượng múa (Chỉ hạng người phóng khoáng, bay bướm, không gò bó, câu nệ trong cách viết chữ)

+ Rồng đến nhà tôm (Chỉ người sang trọng đến thăm nhà người hèn hạ).

+ Ăn như rồng cuốn, nói như rồng leo, làm như mèo mửa (Ăn nhiều, nói gian, nói dối, làm thì chẳng ra chi)

+ Trứng rồng lại nở ra rồng,

Liu điu thì nở ra dòng liu điu (Dòng giống sang trọng thì đẻ ra dòng giống sang trọng, dòng giống tầm thường thì đẻ ra dòng giống tầm thường, hay dòng nào, giống đó)

Và nhiều những câu Ca Dao khác:

+ Rồng vàng xuống tắm ao tù,

Người khôn ở với người ngu bực mình. (Bạn có bao giờ ở với người ngu để cảm nhận được cái bực mình như câu Ca Dao nầy nói chưa?)

+ Có chồng thì phải theo chồng,

Chồng đi hang rắn, hang rồng cũng đi. (Gái có chồng thì chỉ theo chồng mà thôi. Chồng đi đâu vợ theo đó là…tuyệt vời)

+ Nhớ chàng như vợ nhớ chồng,

Như chim nhớ tổ, như rồng nhớ mây. (Một khi bạn nhớ người mình yêu đến độ như Ca Dao mô tả đây thì chắc chắn đó đích thị là yêu rồi đấy!)

+ Lỗ mũi em mười tám gánh lông

Chồng yêu, chồng bảo râu rồng trời cho… (Ai có được một người chồng…dễ tính, dễ thương như thế nầy thì không còn gì bằng!)

+ Phận gái lấy được chồng khôn   

  Xem bằng cá vượt vũ môn hoá rồng. (Chúc cho các bạn nữ lấy được người chồng khôn như cá vượt được vũ môn nhé!)

Ở cả phương Đông và phương Tây, hình ảnh con rồng đều được người ta lấy làm biểu tượng cho loài linh vật huyền thoại, có sức mạnh phi thường. Nếu ở phương Đông, rồng được dùng làm biểu tượng cho quyền lực, và những điều cao quý, tốt lành, thì ở phương Tây rồng lại là con vật tượng trưng cho điều xấu, cái ác và sức mạnh của nó.

Tại nhiều nước Á-Đông, rồng là một trong bốn con vật linh thiêng “Long, lân, quy, phụng” (Rồng, kỳ lân, rùa, phượng hoàng)

Tại Thành Phố Đà Nẵng ở miền Trung Việt Nam thân yêu, có một cây cầu có tên gọi là cầu Rồng, vì nó được xây dựng có hình dáng là một con Rồng. Được biết chiều dài tổng cộng của cây cầu nầy là 666 mét. Chắc chắn không phải ngẫu nhiên mà người ta lại cho xây cây cầu nầy với độ dài đúng 666 mét. Đây là một con số đã xuất hiện trong sách Khải Huyền, chương 13 của Kinh Thánh từ hai ngàn năm qua: “Đây tỏ ra sự khôn ngoan: Kẻ nào thông minh, hãy tính số con thú, vì đó là một số người; số nó là sáu trăm sáu mươi sáu” (Sách Khải Huyền, chương 13, câu 18).

Bạn có…ngạc nhiên về sự trùng hợp của con số nầy không?

Hầu như phần lớn, nếu không muốn nói là tất cả các nhà Nghiên Cứu Kinh Thánh và con dân Chúa đều đồng ý rằng 666 là con số của kẻ địch lại Đấng Christ, là con số thuộc về Sa-tan.

Với người Việt Nam, thì con rồng có ý nghĩa như thế nào?

Theo Nhà Nghiên Cứu Nguyễn Dư, hiện đang cư ngụ tại Pháp, có nhận xét:

«Con rồng đối với người Việt Nam rất đặc biệt vì chúng ta là « con Rồng cháu Tiên », nhưng rồng chỉ là con vật tưởng tượng và tiên cũng chỉ là nhân vật tưởng tượng, sống trên trời, trên núi. Có lẽ con rồng đặc biệt quá nên trong 12 con Giáp, 11 con là có thật, sống trên mặt đất, chỉ có rồng là con vật tưởng tượng, mà lại sống trên trời. Từ xưa đến nay, rồng luôn là biểu hiện của nhà vua, cái gì đụng đến vua đều có rồng bên cạnh cả. Ví dụ như thấy vua thì mình gọi là « long nhan », « long thể » là thân hình của vua, áo vua mặc được gọi là « long bào », chỗ vua ở mình gọi là « bệ rồng », thuyền vua đi cũng được gọi là « thuyền rồng ». Các đền đài ngày xưa cũng được trang trí bằng rồng rất nhiều.

Dưới vua là hàng các quan lớn, tức là xuất thân từ giới sĩ tử. Khi sĩ tử đi học thì ai cũng mong thi đỗ để ra làm quan. Người nào thi đỗ thì ta gọi là « cá hóa rồng », xuất phát từ tích « Cá vượt vũ môn ». Đây là những con cá anh vũ, khi mà vượt qua được vũ môn, thì hóa thành con rồng. Các ông quan của mình ngày xưa thì ông nào cũng phải thơ văn cho thật hay, chữ viết cho thật đẹp. Dân gian mình qua bài « Ông Đồ » rất nổi tiếng của Vũ Đình Liên thì khen các ông là chữ viết như « rồng bay phượng múa ». 2

Giáo Sư Kinh Thánh,Tom Meyer, thuộc Đại học Kinh Thánh và Cao học Shasta ở California, Hoa Kỳ  thì cho biết: “Rồng thường được nhắc đến trong Kinh Thánh. Từ Sáng Thế Ký đến Khải Huyền, có tổng cộng 35 lần xuất hiện”. 3

Sách Gióp có đề cập đến một con vật…vĩ đại có tên là “Lê-vi-a-than” như sau:

Ai hay rủa sả ngày, và có tài chọc lê-vi-a-than dậy. Hãy rủa sả nó” (Sách Gióp, chương 3, câu 8).

Tại thế thượng chẳng có vật chi giống như nó. Nó được dựng nên để không sợ gì hết. Nó nhìn xem các vật cao lớn. Nó làm vua của các loài thú kiêu ngạo” (Sách Gióp, chương 41, câu 24, 25).

Trong tiếng Hê-bơ-rơ, thì cụm từ “các loài thú kiêu ngạo” trong bản Kinh Thánh Việt Ngữ, có nghĩa là là “mọi con cái của sự kiêu ngạo”, vì loài thú dường như không biết…kiêu ngạo bao giờ!

Khi chúng ta nghe “Nó làm vua của mọi con cái của sự kiêu ngạo” thì chúng ta biết “vua” ở đây…đích thị là Sa-tan, chứ không ai khác được. Vì Sa-tan chính là vua kiêu ngạo và nói dối.

Những câu Kinh Thánh tiếp theo trong sách Thi-thiên và Ê-sai sau đây cũng nói về nhân vật Lê-vi-a-than:

Chúa đã dùng quyền năng Chúa mà rẽ biển ra. Bẻ gãy đầu quái vật trong nước. Chúa chà nát đầu lê-vi-a-than. Ban nó làm thực vật cho dân ở đồng vắng” (Sách Thi-thiên, chương 74, câu 13, 14).

Còn biển lớn và rộng mọi bề này! Ở đó sanh động vô số loài vật nhỏ và lớn. Tại đó tàu thuyền đi qua lại. Cũng có lê-vi-a-than mà Chúa đã nắn nên đặng giỡn chơi nơi nó” (Sách Thi-thiên, chương 104, câu 25, 26).

Trong ngày đó, Đức Giê-hô-va sẽ dùng gươm cứng, lớn, và mạnh mà phạt lê-vi-a-than, là con rắn lẹ làng, phạt lê-vi-a-than là con rắn cong queo; và Ngài sẽ giết con vật lớn dưới biển” (Sách Ê-sai, chương 27, câu 1).

Cụm từ “Chúa chà nát đầu lê-vi-a-than” trong Thi-thiên, chương 74, câu 14 gợi cho chúng ta nhớ lại Sáng Thế Ký, chương 3, câu 15 rằng: “Ta sẽ làm cho mầy cùng người nữ, dòng dõi mầy cùng dòng dõi người nữ nghịch thù nhau. Người sẽ giày đạp đầu mầy, còn mầy sẽ cắn gót chơn người”

Rồi trong Ê-sai, chương 27, câu 1, thì cho biết: “Chúa sẽ phạt lê-vi-a-than, là con rắn lẹ làng, phạt lê-vi-a-than là con rắn cong queo; và Ngài sẽ giết con vật dưới biển.”

Xâu chuỗi những câu Kinh Thánh nầy lại với nhau, chúng ta thấy con vật lê-vi-a-than nầy chính là hình ảnh về Sa-tan là con rồng, con rắn xưa khá rõ ràng.

Một số nhà giải Kinh cho rằng lê-vi-a-than chính là loài khủng long biển tên là kronosaurus.

Trong một ý nghĩa thuộc linh, bê-hê-mốt và lê-vi-a-than đều được dùng để tiêu biểu cho sự hung hãn của Sa-tan, cũng chính là con rồng trong Khải Huyền, và con rắn xưa trong Sáng Thế Ký.

Giờ, chúng ta cùng xem Lời Chúa nói về con rồng trong sách Khải Huyền. Khải Huyền là sách nói về nhân vật “Rồng” nầy nhiều nhất trong Kinh Thánh:

Trên trời cũng hiện ra một dấu khác nữa: Là một con rồng lớn sắc đỏ, có bảy đầu mười sừng, và trên đầu có bảy mão triều thiên. Đuôi kéo một phần ba các ngôi sao trên trời, đem quăng xuống đất. Con rồng ấy chực trước người đàn bà gần đẻ, hầu cho khi đẻ ra thì nuốt con người đi” (Sách Khải Huyền, chương 12, câu 3, 4).

Bấy giờ có một cuộc chiến đấu trên trời: Mi-chen và các sứ người tranh chiến cùng con rồng, rồng cũng cùng các sứ mình tranh chiến lại; song chúng nó không thắng, và chẳng còn thấy nơi chúng nó ở trên trời nữa. Con rồng lớn đó bị quăng xuống, tức là con rắn xưa, gọi là ma quỉ và Sa-tan, dỗ dành cả thiên hạ; nó đã bị quăng xuống đất, các sứ nó cũng bị quăng xuống với nó… Khi rồng thấy mình bị quăng xuống đất, bèn đuổi theo người đàn bà đã sanh con trai. Nhưng người được ban cho một cặp cánh chim phụng hoàng, đặng bay về nơi đồng vắng là chỗ ẩn náu của mình; ở đó được nuôi một thì, các thì, và nửa thì, lánh xa mặt con rắn. Bấy giờ con rắn phun nước ở miệng mình ra như sống theo sau người đàn bà, hầu cho kéo người xuống sông. Nhưng đất tiếp cứu người đàn bà, vì đất hả miệng nuốt sông mà con rồng đã phun ra từ miệng nó. Con rồng giận người đàn bà bèn đi tranh chiến cùng con cái khác của người, là những kẻ vẫn giữ các điều răn của Đức Chúa Trời và lời chứng của Đức Chúa Jêsus. Con rồng đứng trên bãi cát của biển” (Sách Khải Huyền, chương 12, câu 7-9, 13-18).

Con thú tôi thấy đó giống như con beo; chân nó như chân gấu, miệng như miệng sư tử, và con rồng đã lấy sức mạnh, ngôi, và quyền phép lớn mà cho nó. Một cái trong các cái đầu nó như bị thương đến chết; nhưng vít thương chết ấy được lành, và cả thế gian đều lấy làm lạ mà theo con thú đó. Người ta khởi thờ phượng con rồng, bởi nó đã lấy quyền phép cho con thú; và họ cũng thờ phượng chính con thú, mà rằng: Ai sánh được với con thú, ai giao chiến cùng nó được?” (Sách Khải Huyền, chương 13, câu 2-4).

Đoạn, tôi thấy một vị thiên sứ trên trời xuống, tay cầm chìa khóa vực sâu và một cái xiềng lớn. Người bắt con rồng, tức là con rắn đời xưa, là ma quỉ, là Sa-tan, mà xiềng nó lại đến ngàn năm. Người quăng nó xuống vực, đóng cửa vực và niêm phong lại, hầu cho nó không đi lừa dối các dân được nữa, cho đến chừng nào hạn một ngàn năm đã mãn. Sự đó đoạn, Sa-tan cũng phải được thả ra trong ít lâu” (Sách Khải Huyền, chương 20: câu 1-3).

Những phân đoạn Kinh Thánh trong sách Khải Huyền vừa nêu ở trên nhắc đi nhắc lại nhiều lần về…nhân vật “Rồng”, tức là con rắn đời xưa đã cám dỗ Ê-va và A-đam phạm tội với Đức Chúa Trời trong vườn Ê-đen. Con rắn đời xưa đó là hiện thân của ma quỷ, của Sa-tan vậy.

Như vậy, qua Kinh Thánh, chúng ta được biết hình ảnh con rồng là biểu tượng của Sa-tan, của ma quỷ, tượng trưng cho điều ác.

Người Việt Nam tự cho mình có nguồn gốc là “Con Rồng, cháu Tiên”: Con Rồng cháu Tiên“ bắt nguồn từ Tổ Lạc Long Quân và Âu Cơ . Một người là Rồng ngự trị trên vùng sông nước, một kẻ là Tiên ngất ngưỡng nơi chốn núi rừng . Hai tổ gặp nhau và sinh được một bọc trứng, nở thành trăm con. Năm mươi theo Tổ Âu Cơ về núi, năm chục ở lại với Tổ Lạc Long nơi đồng bằng và hình thành nước Văn Lang (quốc hiệu đầu tiên của VN ) cho tới ngày nay . 4

Kinh Thánh cho chúng ta biết rồng là biểu tượng cho Sa-tan là kẻ thù của Đức Chúa Trời và của người thuộc về Ngài. Cho nên, là con cái Chúa, dưới ánh sáng của Kinh Thánh, chúng ta không tin vào một điều mang đầy tính chất thần thoại, hoang đường như thế.

Vả lại, trong muôn loài vạn vật mà Đức Chúa Trời tạo nên, thì duy con người được tạo nên theo hình ảnh của Đức Chúa Trời, cho nên con người cao quý hơn muôn loài vạn vật rất nhiều. Con người chỉ kém thua Đức Chúa Trời một chút mà thôi, như Kinh Thánh đã dạy: “Chúa làm người kém Đức Chúa Trời một chút, đội cho người sự vinh hiển và sang trọng. Chúa ban cho người quyền cai trị công việc tay Chúa làm, khiến muôn vật phục dưới chân người” (Sách Thi-thiên, chương 8, câu 5, 6). Không có lý gì khi con người được tạo nên cao quý hơn muôn vật mà lại đi chấp nhận con rồng làm tổ tiên của mình cả.

Một khi con người từ chối tin thờ Đức Chúa Trời thì con người sống trong tối tăm, và bị Sa-tan bắt phục thờ lạy nó để chống lại Đấng tạo nên mình là Đức Chúa Trời.

Tạ ơn Đức Chúa Trời đã mở mắt lòng chúng ta “từ tối tăm qua sáng láng” để chúng ta nhận biết được Ngài là Cha thiêng liêng cao quý duy nhất của mình, và ban cho chúng ta địa vị làm con của Ngài ở trong danh của Chúa Cứu Thế Giê-su!

Nhân năm Âm Lịch năm nay có tên là năm Giáp Thìn (năm con Rồng), xin có vài lời…tản mạn về rồng để hầu chuyện quý độc giả gần xa, nhất là quý độc giả là những tín nhân của Chúa Giê-su Christ; hầu cho chúng ta nhận chân được về nhân vật “Con Rồng”. Qua lăng kính Lời Kinh Thánh, chúng ta không tin và làm theo đời nầy mà chỉ tin và làm theo những gì Kinh Thánh đã dạy bảo chúng ta mà thôi, như Lời Chúa đã phán: Đừng làm theo đời nầy, nhưng hãy biến hóa bởi sự đổi mới của tâm thần mình, để thử cho biết ý muốn tốt lành, đẹp lòng và trọn vẹn của Đức Chúa Trời là thể nào” (Sách Rô-ma, chương 12, câu 2).

Một chỗ khác, Kinh Thánh cũng dạy: “Xưa kia, anh em chẳng biết Đức Chúa Trời chi hết, thì làm tôi các thần vốn không phải là thần” (Sách Ga-la-ti, chương 4, câu 8).

Xưa kia, khi chưa tin Chúa, có thể mỗi chúng ta cũng tin những điều như người thế gian tin, theo kiểu “xưa bày nay bắt chước”; nhưng bây giờ, chúng ta đã trở nên con cái Đức Chúa Trời rồi, đã trở nên “người sáng láng trong Chúa”, thì không còn tin những điều ấy nữa, và không “làm tôi các thần vốn không phải là thần” nữa.

Cầu xin Đức Chúa Trời là Đấng đã tạo nên muôn loài vạn vật và con người, ban phước cho mỗi một chúng ta, để chúng ta biết sống đẹp lòng Chúa trong năm mới và trong suốt cuộc đời theo Chúa của mình!

California, Những Ngày Cận Tết Nguyên Đán 2024!
Mục Sư Nguyễn – Đình – Liễu

1 Từ Điển Tiếng Việt của Viện Ngôn Ngữ Học, Nxb Từ Điển Bách Khoa, Hà Nội, 2011, p. 1069.
2 (rfi.fr/vi/chau-a/20120123-chuyen-con-rong-xua-va-nay)
3 trithucvn.co/doi-song/chuyen-gia-nghien-cuu-kinh-thanh-rong-that-su-ton-tai.html
4 anhdao.org/a623/rong-qua-van-chuong-dien-tich-va-cuoc-song-con-nguoi-muong-giang

TẾT VỀ, NHỚ…GIỌNG NÓI QUÊ HƯƠNG

Văn: MS Nguyễn Đình Liễu

Xuân về Tết đến tới nơi rồi đây. Người người nhà nhà hăm hở kéo nhau lũ lượt về quê ăn Tết sau cả năm xa quê để mưu sinh; nhưng mà mình vẫn còn ở tít bên trời Tây.

Hơn chín cái Tết xa quê, nên nhớ nhà, nhớ quê là cái chắc. Một trong nhiều những nỗi nhớ đó là nhớ…giọng nói quê hương Quảng Nam thân thương, đáng yêu của tôi.

Tôi là người Quảng Nam chính hiệu…con nai vàng. Tôi cũng được Chúa cho có nhiều cơ hội đi nơi nầy chỗ kia: Huế, Sài Gòn, Hà Nội đủ cả, và còn nhiều hơn thế nữa. Thậm chí đi tới bên kia bờ Đại Tây Dương luôn và hiện đang ở tại California của xứ Hoa Kỳ xinh đẹp đây. Thế nhưng, dù đi đâu, ở đâu, tôi cũng không thể nào quên được giọng nói Quảng Nam chất phát, chân tình như hột lúa, củ khoai của quê nhà tôi vậy.

Nói đến giọng Quảng Nam, người quê tôi không bao giờ quên được câu nói…đặc trưng đã trở thành…đặc sản của mình, không ai không biết: Eng không eng, tét đèng đi ngủ, đừng kèng nhèng chó kéng nheng reng (Ăn không ăn, tắt đèn đi ngủ, đừng có cằn nhằn mà chó cắn nhăn răng). Một câu nói khác cũng mang đầy chất giọng quê nhà: Choa ơi choa, anh boa ảnh câu con cóa, ảnh để trên hòn đóa, con gòa héng eng (Cha ơi cha, anh Ba ảnh câu con cá, ảnh để trên hòn đá, con gà hắn ăn), v…v…

Mỗi khi có việc phải đi xa quê, thì tôi thường hay thầm nói với mình những câu ấy để cho…đỡ nhớ quê và rồi tự cười một mình một cách sung sướng về giọng nói thân thương ấy.

Bây giờ, dù đang ở xứ Mỹ, mỗi khi nghe được đâu đó giọng nói của người cùng quê (có khi nghe ở ngoài đời, có khi nghe ở trên mạng), tôi cũng…nhớ đến mấy câu nói…đặc sản ấy để rồi tự cười vui với chính mình.

Nghe đâu tiếng Quảng Nam quê tôi đã từng được coi là…ngôn ngữ chuẩn, ngôn ngữ… quốc gia luôn đó. Chính Vua Tự Đức đã từng khẳng định: “Bình văn, xướng văn tất phải dùng tiếng Quảng Nam, được xem là trung thanh.”

Có thế chứ lị!!!

Mỗi khi nhớ đến giọng nói quê nhà, tôi cũng không thể quên được bài thơ…đặc trưng giọng Quảng Nam rất nổi tiếng của Nhà Thơ trào phúng Tú Rua quê tôi cũng rất nổi tiếng:

Rứa (thế) mới kêu là chất Quảng Nôm (Nam)

Ăn hòn nói cục chẳng thôm lôm (tham lam)

Có chàng công tử quê Đà Nẽng (Nẵng)

Cưới ả Thúy Kiều xứ Phú Côm (Cam)

Cha vợ đến thăm chào trọ trẹ

Mẹ chồng không hiểu nói cồm rồm (càm ràm)

Thêm ông hàng xóm người Hà Nội

Chả hiểu mô tê (gì đâu) cũng tọa đồm (tọa đàm)

 

Theo một bài báo cho biết: Có nghiên cứu cho rằng bởi đó là giọng của người Chăm nói tiếng Việt. Cho đến thế kỉ 11, vùng đất này vẫn thuộc vương quốc Chăm Pa, vì lãnh thổ Đại Việt khi đó chỉ đến “Đèo Ngang bóng xế tà” thôi. Năm 1306 vua Trần gả công chúa Huyền Trân, vua Chế Mân sướng quá, cắt luôn cho Đại Việt hai châu Ô, Rí làm lễ cưới. Một thế kỉ sau, năm 1402 Hồ Quý Ly mở mang bờ cõi đến sông Thu Bồn. Năm 1471 vua Lê Thánh Tông tiến quân đến đèo Cả, sau rút về lập biên giới tại đèo Cù Mông, ranh giới hai tỉnh Bình Định, Phú Yên ngày nay. Thế là trong suốt mấy trăm năm, trai tráng Việt vào đây lập nghiệp, lấy vợ người Chăm. Các cô gái Chăm lấy chồng Việt tất nhiên phải học tiếng Việt, nhưng nói bằng giọng Chăm lơ lớ, vừa biến âm méo tiếng như ă thành e (ắt/ét), am thành ôm, ôm thành ơm, ao thành ô, vừa pha lẫn những từ Chăm, ví như mô (đâu), tê (kia), ni (này), răng (sao), rứa (thế), ri (vậy), chừ (hiện tại), rị (kéo), truất (tệ quá), thộn (túi áo quần), cà rịch cà tang (đủng đà đủng đỉnh), v...v... Thứ giọng và vốn từ ấy truyền cho con cái, những thế hệ người Việt gốc Chăm, tạo nên giọng Quảng Nam ngày nay. (Hữu Thọ) *

Còn theo nghiên cứu của một Tiến Sĩ Ngôn Ngữ Học người Quảng Nam về giọng nói quê mình, thì cho biết: “Có thể rằng những vần lạ lùng kia ngày xưa là đặc điểm khá chung ở giọng Thanh – Nghệ – Tĩnh. Những di dân đầu tiên vào đất Quảng Nam đã đem theo giọng nói ấy. Sau khi bị tách rời khỏi quê hương cũ một thời gian dài, nhất là trong thời kỳ Trịnh –  Nguyễn phân tranh, một số đặc trưng ấy đã hòa nhập vào giọng Quảng Nam hiện đại và được giữ lại cho đến nay. Trong khi đó ở quê nhà, giọng nói vẫn không ngừng thay đổi. Một số vùng, nhất là quanh các trung tâm tỉnh, qua tiếp xúc với các phương ngữ khác, nhiều giọng địa phương đã rũ bỏ dần những nét quá đặc trưng để gần với giọng “chuẩn” Bắc Bộ hơn. Giọng Quảng Nam vô tình trở thành một cổ viện, lưu giữ một số dấu vết đặc biệt của giọng Thanh – Nghệ xưa ”  (p. 211) **

Dường như chưa ai có đủ luận chứng để có thể khẳng định cách chắc chắn về nguồn gốc và sự hình thành giọng Quảng Nam một cách thuyết phục. Hy vọng rằng trong tương lai, sẽ còn có nhiều người khác sẽ tìm kiếm, nghiên cứu về nguồn gốc của…giọng nói đặc biệt nầy.

Khi nói đến giọng nói đặc trưng của quê mình, không lẫn vào đâu được, tôi chợt nhớ Kinh Thánh cũng có nói đến giọng nói…đặc trưng của xứ Ga-li-lê, quê hương của Chúa Giê-su và của các Sứ Đồ của Ngài ngày xưa cũng có giọng nói không lẫn vào đâu được như thế.

Còn nhớ, khi Chúa Giê-su, Thầy mình bị bắt và bị giải đến sân của Thầy Cả Thượng Phẩm để tra khảo. Phi-e-rơ (một phát ngôn nhân trong Mười Hai Sứ Đồ của Chúa Giê-su) yêu Thầy, nên cũng đi theo để xem sự việc ra thể nào, và mình có thể làm gì đó để…cứu Thầy mình được không?

Kinh Thánh ghi lại: “Một chặp nữa, những kẻ ở gần đó đến gần nói với Phi-e-rơ rằng: Chắc thật, ngươi cũng thuộc về đảng ấy, vì tiếng nói của ngươi khai ngươi ra. Người bèn rủa mà thề rằng: Ta không biết người đó đâu! Tức thì gà gáy!” (Sách Ma-thi-ơ, chương 26, câu 73, 74).

“Tiếng nói của ngươi khai ngươi ra.” Phi-e-rơ là một ngư phủ vùng Ga-li-lê. Chắc có lẽ, người sống tại vùng Ga-li-lê có một giọng nói mộc mạc, chân chất, cục mịch khá…đặc trưng như giọng nói…đặc trưng của vùng Quảng Nam quê tôi, không lẫn vào đâu được chăng? Cho nên, dù ông cố  tình ngồi lẫn vào trong đám đông để sưởi ấm giữa lúc thời tiết giá lạnh lúc bấy giờ, hầu cho không ai nhận ra mình cũng là môn đồ của Chúa Giê-su. Ấy vậy mà cũng có người tinh ý nghe giọng nói của ông liền chỉ ra ông cũng là một người thuộc…đảng của Giê-su (vì Chúa Giê-su cũng là người Ga-li-lê).

Giọng xứ Ga-li-lê của Phi-e-rơ sao mà…giống giọng xứ Quảng Nam của tôi đến thế?

Khi tôi đi bất cứ nơi đâu làm việc hay giảng Kinh Thánh, người ta thường hỏi tôi câu hỏi như đã biết rồi: Anh/ Chú/ Ông/ Mục Sư là người Quảng Nam hả? Tôi…giả vờ hỏi lại: Sao biết hay vậy? Thì giọng Quảng Nam nghe biết liền mà!

Không ngờ giọng Quảng Nam quê mùa, chân chất, cục mịch cũng…nổi tiếng ai cũng biết đó chứ!

Chúng ta biết rằng, quê hương của Chúa Giê-su là ở Ga-li-lê, nằm ở phía Bắc xứ Do-thái. Đây là nơi Đức Chúa Jesus đã sống hầu hết thời gian hơn ba mươi năm cuộc đời của Ngài trên đất.

Mười một trong số Mười Hai Sứ Đồ của Đức Chúa Jesus cũng xuất thân từ vùng Ga-li-lê, trừ Giu-đa.

Tân Ước, địa danh Ga-li-lê được nhắc đến rất nhiều lần vì đây là quê hương của Đức Chúa Jesus. Đức Chúa Jesus đã khởi hành chức vụ của Ngài tại vùng Ga-li-lê. Vùng Ga-li-lê có hồ nổi tiếng cùng tên là hồ Ga-li-lê. Người ta còn gọi là hồ Ghê-nê-sa-rết (Sách Lu-ca, chương 5, câu 1), hay hồ Ti-bê-ri-át (Sách Giăng, chương 6, câu 1).

Chúa Giê-su đã trải qua phần lớn thì giờ trong chức vụ của Ngài tại vùng hồ Ga-li-lê. Chúa gọi các môn đồ đầu tiên tại đây (Sách Ma-thi-ơ, chương 4, câu 18-22). Ngài làm phép lạ đầu tiên tại thành Ca-na thuộc xứ Ga-li-lê (Sách Giăng, chương 2, câu 1-11). Ngài giảng Bài Giảng Trên Núi (Sách Ma-thi-ơ, chương 5-7), Chúa hóa hình (Sách Ma-thi-ơ, chương 17),rồi hóa bánh nuôi 5000 người ăn (Sách Ma-thi-ơ, chương 14) đều ở tại vùng Ga-li-lê thân yêu nầy.

Có thể nói, Ga-li-lê là vùng đất, nơi Chúa được người ta mến mộ nhất. Sau ngày Chúa phục sinh, hai lần Ngài xuất hiện quan trọng nhất cũng xảy ra tại Ga-li-lê. Chúa ban hành Ðại Mạng Lệnh  (Sách Ma-thi-ơ, chương 28, câu16-20). Chúa gặp bảy môn đồ đang đánh cá (Sách Giăng, chương 21, câu 1) đều tại vùng Ga-li-lê.

Một vùng đất không có gì là đặc biệt trong suy nghĩ của người thời bấy giờ, đến nỗi Na-tha-na-ên đã không chút e dè mà nói rất thật từ lòng mình rằng: “Há có vật gì tốt ra từ Na-xa-rét được sao? Phi-líp nói: Hãy đến xem” (Sách Giăng, chương 1, câu 46). Thành Na-xa-rét là thành thuộc vùng Ga-li-lê, quê hương của Chúa.

Nghe câu nói rất thật đó, Chúa Giê-su không những không buồn, không quở trách, nhưng đã khen ông: “Nầy, một người Y-sơ-ra-ên thật, trong người không có điều dối trá chi hết” (Sách Giăng, chương 1, câu 47). Nhưng từ vùng đất đó, Đức Chúa Trời đã làm cho xuất hiện những con người kiệt xuất nhất của thế giới từ xưa cho đến nay. Mười Hai Sứ Đồ của Chúa Giê-su đã làm rung chuyển cả thế giới thời bấy giờ. Nổi bật nhất trong số đó là Chúa Giê-su, một con người vĩ đại nhất của mọi thời đại, một con người vô tội duy nhất trong vòng lịch sử con cái loài người, và là Đấng Cứu Thế duy nhất của nhân loại. Đấng đã được Đức Chúa Trời đem lên rất cao và ban cho Ngài danh trên hết mọi danh. Đấng mà rồi đây, mọi đầu gối trên trời, dưới đất, bên dưới đất thảy đều quỳ xuống trước Ngài, và mọi lưỡi thảy đều xưng Ngài là Chúa, mà tôn vinh Đức Chúa Trời là Đức Chúa Cha (Sách Phi-líp, chương 2, câu 9-11).

Tôi liên tưởng đến vùng đất “Quảng Nam chưa mưa đà thấm” của tôi. Quảng Nam là một vùng đất nghèo, đến nỗi được mệnh danh là xứ “chó ăn đá, gà ăn sỏi”, tức rất nghèo khó. Nhưng có lẽ Đức Chúa Trời biết người Quảng Nam có lòng cần mẫn, chịu thương, chịu khó, và kiên trì vượt khó, cũng là người cởi mở, sẵn sàng tiếp thu cái mới, nên Chúa đã cho hột giống Tin Lành được gieo ra tại đây và được kết quả đầu tiên. Chính vì vậy mà xứ Quảng Nam được trở thành “Cái nôi của Đạo Tin Lành ở Việt Nam” từ năm 1911 cho đến nay. Từ cái nôi nầy, Chúa đã cho có hàng trăm con cái Chúa được Chúa sử dụng trở nên những Mục Sư để hầu việc Ngài ở khắp ba miền Bắc Trung Nam của Việt Nam và ở trên khắp thế giới nữa. Đó là việc Đức Chúa Trời làm chứ không có ai làm được.

Cảm tạ Chúa về sự ban cho của Ngài trên vùng đất Quảng Nam, nói riêng, và trên đất nước Việt Nam, nói chung!

Để kết thúc bài viết tản mạn nầy, tôi có bài thơ nói về giọng nói và món ăn đặc trưng của quê hương Quảng Nam yêu dấu của mình, xin được ghi ra đây để bạn đọc cùng…thưởng thức với tôi cho vui nhân dịp Xuân về, Tết đến:

Tôi nhớ quê tôi vùng Quảng Nam/ Miền Trung nước Việt đã bao năm./ Nắng mưa bão lụt, bao gian khó/ Vất vả miết rồi, chẳng…thở than…/ Tôi nhớ quê tôi, nhớ rành rành/ Quảng Nam – cái nôi đạo Tin Lành. 1/ Từ đây, danh Chúa đồn khắp nước / Thị thành, vùng biển với non xanh…/ Tôi nhớ quê tôi, nhớ làm sô (sao)/ Giọng nói Quoảng…Nôm (Quảng Nam) mới ngọt ngồ (ngào)./ Nghe rồi, nghe nữa, hoài không chán/ Giọng nói quê mình đẹp biết bô (bao) 2…/ Tôi nhớ quê tôi, nhớ món mì/ Mì Quảng với tôi nhứt, không nhì./ Đi mô (đâu) cũng nhớ về…mì Quảng/ Mà nghe lòng dạ đã chi chi…/ Tôi nhớ quê tôi, nhớ tình người / Dù bao gian khó vẫn cứ cười./ Có sao nói vậy, không chải chuốt/ Chân chất, đậm đà đáng yêu thôi…/ Tôi nhớ quê tôi, nhớ đủ điều / Làng trên, xóm dưới, nhớ sớm chiều./ Một thời thuở nhỏ vui chi lạ/ Mãi mãi sau này vẫn cứ yêu…/ Tôi nhớ quê tôi, khi đi xa/ Chợt nghe giọng Quảng ở quê nhà./ Đâu đó trên đài hay trên mạng/ Mà thương, mà mến thật thiết tha…/ Tôi nghĩ đến quê hương trên trời 3/ Mai kia, được về đó nghỉ ngơi./ Mà lòng vui sướng không thể tả/ Nghỉ yên trong tình Chúa đời đời…/ Bạn hỡi, sống gởi rồi thác về/ Một cảnh nhưng mà có hai quê./ Thiên Đàng phước hạnh hay Địa Ngục?/ Lựa chọn hôm nay, chớ bỏ bê…/ Mời bạn cùng tôi hướng Thiên Đàng / Quê hương vĩnh cửu thật cao sang./ Quê hương trên đất là quê tạm/ Quê ở trên trời mãi vinh quang…

(Bình Tú Ngọc-Tôi Nhớ Quê Tôi)

Kính chúc mọi người gần xa hưởng một mùa Xuân mới trong sum họp yêu thương và bình an!

California, Đầu Xuân Mới 2024!

Mục Sư Nguyễn – Đình – Liễu

 

* nongnghiep.vn/tri-thuc-nong-dan/giong-quang-nam-d329277.html

** Andrea Hoa Pham, Nguồn gốc và sự hình thành giọng Quảng Nam, Nxb Đà Nẵng, 2022.

1 Đạo Tin Lành được truyền  đến Việt Nam có lẽ trước đó nhiều năm, nhưng đến năm 1911 mới thành lập được Hội Thánh đầu tiên là Hội Thánh Tin Lành Đà Nẵng thuộc vùng đất Quảng Nam.

2 Người Quảng Nam khi nói đều phát âm những chữ có vần “ao” thành “ô” hết, nhưng khi viết, người dân xứ Quảng viết đúng chứ không sai.

3 Sách Hê-bơ-rơ, chương 11, câu 16.

Lo Lắng Làm Chi

Thơ: Tiểu Minh Ngọc


“Chớ lo phiền chi hết, nhưng trong mọi sự hãy dùng lời cầu nguyện, nài xin, và sự tạ ơn mà trình các sự cầu xin của mình cho Đức Chúa Trời. Sự bình an của Đức Chúa Trời vượt quá mọi sự hiểu biết, sẽ giữ gìn lòng và ý tưởng anh em trong Đức Chúa Jêsus Christ.” – Phi-líp 4:6-7
“Đáng chúc phước thay là kẻ nhờ cậy Đức Giê-hô-va, và lấy Đức Giê-hô-va làm sự trông cậy mình. Nó cũng như cây trồng nơi bờ suối, đâm rễ theo dòng nước chảy; ngộ khi trời nắng, chẳng hề sợ hãi, mà lá cứ xanh tươi. Gặp năm hạn hán cũng chẳng lo gì, mà cứ ra trái không dứt.” – Giê-rê-mi 17::7-8
“Trong cơn gian truân tôi cầu khẩn Đức Giê-hô-va, Tôi kêu cầu Đức Chúa Trời tôi: Tại đền Ngài, Ngài nghe tiếng tôi, Và tiếng kêu cầu của tôi thấu đến tai Ngài.” – Thi-thiên 18:6
“Đức Chúa Trời là nơi nương náu và sức lực của chúng tôi, Ngài sẵn giúp đỡ trong cơn gian truân.” – Thi-thiên 46:1

Này hỡi chị, vì đâu mà lo lắng,
Suy nghĩ nhiều, cũng chẳng giúp được gì,
Nét mặt buồn, sầu thảm có ích chi,
Mà kết cuộc, vấn đề chưa giải quyết!?

Khi bệnh tật, khó khăn nhiều khôn xiết,
Chị lắng lòng, tìm đến Chúa toàn năng,
Đấng yêu thương, luôn biết rõ, ở gần,
Và có cách, an bày cho tất cả!

Dầu hoạn nạn, muốn làm ta gục ngã,
Nhưng sức Ngài, đủ mạnh kéo ta lên,
Mặc kệ gian nan, quyết chí, vững bền,
Trông cậy Chúa, Nguồn Linh Ân bất diệt!

Mọi hoàn cảnh, yếu đau hay thua thiệt,
Chẳng thể nào, lấy mất được trong ta,
Tình yêu Trời hằng hữu, thật bao la,
Luôn bao phủ, đem ta vào yên nghỉ!

Hãy biết Chúa – Đấng toàn tri, toàn trí,
Luôn ẫm bồng, trong mọi lúc gian nan,
Hãy đến cầu xin, Hoàng Tử bình an,
Giúp ta thoát khỏi, hoang mang, thử thách!

Lòng có Chúa, an toàn qua ngỏ ngách,
Sống vui tươi, có mục đích trong đời,
Hầu việc Chúa, trong khi chờ Ngài tới,
Một tương lai, thật vinh hiển chị ơi!

(Xin Chúa yên ủi, thêm sức, dẫn dắt các chị em vược qua lo lắng, buồn phiền trong thử thách, và vững tin theo Chúa!)
Tiểu Minh Ngọc

ĐỜI SỐNG CẦU NGUYỆN CỦA BẠN NHƯ THẾ NÀO?

Dưỡng Linh: Jeff Schreve

2-14-2024            

“Tôi yêu mến Đức Giê-hô-va, vì Ngài đã nghe tiếng tôi cầu xin. Vì Ngài đã nghiêng tai lắng nghe tôi, nên tôi sẽ kêu cầu Ngài trọn đời.” (Thi Thiên 116:1-2)

Tôi rất thích câu chuyện về cậu bé chơi trong hố cát. Có một tảng đá lớn trong hố cát đã cản trở niềm vui của cậu bé. Cậu cố gắng lăn nó ra khỏi hố, nhưng nó quá to và nặng nên cậu không thể lấy đá ra được. Trong cơn thất vọng, cậu bé bắt đầu khóc.

Cha cậu đã chứng kiến toàn bộ sự việc và nói với cậu con trai đang rơi nước mắt: “Sao con không dùng hết sức lực của mình?” Cậu bé đáp lại qua tiếng nức nở: “Con đã dùng hết sức lực rồi bố ạ!” Bố cậu trả lời: “Không, con không làm vậy, vì con không nhờ bố giúp đỡ.”

CẦU NGUYỆN LÀ CẦU GIÚP ĐỠ

Chúng ta giống cậu bé đó ở mức nào? Đã bao nhiêu lần chúng ta cố gắng di chuyển những chướng ngại vật trên đường đi của mình mà không tìm kiếm Chúa và kêu cầu danh Ngài trước tiên? Kết quả luôn giống nhau. Cuối cùng, chúng ta tức giận, thất vọng, rơi nước mắt và chán nản vì không thể giải quyết được vấn đề.

Chúa đang chờ đợi bạn và tôi nhìn lên Ngài. Cánh cửa phòng ngài mở ra cho con cái Ngài. Chắc chắn, điều làm Đức Chúa Trời ngạc nhiên là tương đối ít Cơ-đốc nhân thực sự đầu tư thời gian và sức lực vào việc cầu nguyện tha thiết. Như Đa-vít đã nói: “Tai Ngài nghiêng về chúng ta”. Vậy tại sao chúng ta không cầu nguyện thường xuyên hơn và nhiệt thành hơn? Hãy để tôi đưa ra một số lý do:

  1. Chúng ta không thực sự tin Chúa sẽ trả lời. Sự thật là Ngài hứa sẽ trả lời. “Hãy kêu cầu Ta, Ta sẽ trả lời con; Ta sẽ tỏ cho con những việc lớn và khó, là những việc con chưa từng biết.” (Giê-rê-mi 33:3).
  2. Chúng ta không thực sự tin rằng Chúa quan tâm. Sự thật là Ngài quan tâm nhiều hơn những gì chúng ta có thể hiểu được. “Hãy giao phó mọi lo lắng của bạn cho Ngài, vì Ngài quan tâm đến bạn” (1 Phi-e-rơ 5:7 GNB).
  3. Chúng tôi không thực sự tin rằng nó sẽ tạo ra sự khác biệt nào. Sự thật là nó tạo ra mọi sự khác biệt trên thế giới. “Anh em không có gì cả vì anh em không cầu xin.” (Gia-cơ 4:2).
  4. Chúng ta kiêu ngạo hơn nhiều so với mức chúng ta muốn thừa nhận. Người kiêu ngạo không yêu cầu giúp đỡ. “Đức Chúa Trời chống lại kẻ kiêu ngạo, nhưng ban ơn cho kẻ khiêm nhường (Gia-cơ 4:6).
  5. Chúng ta quá bận tâm đến những điều nhỏ nhặt và quá lười biếng với những điều quan trọng. Cầu nguyện là một công việc khó khăn. Nó cần nỗ lực và đó là một cuộc đấu tranh. Ma quỷ biết quyền năng của Chúa đến khi chúng ta quỳ gối, nên hắn sẽ chiến đấu tận răng để giữ bạn khỏi điều đó. “nhưng hãy tự luyện tập lòng tin kính” (1 Ti-mô-thê 4:7).

Hãy để tôi khuyến khích bạn như tôi khuyến khích chính mình, hãy đặt lời cầu nguyện (và nghiên cứu Kinh Thánh) làm nền tảng cho bước đi của bạn với Chúa Giê-su. Chúng ta rất cần sự giúp đỡ, cần ân sủng và sự hướng dẫn của Ngài. Ngài nói với chúng ta rằng Ngài luôn sẵn sàng phục vụ chúng ta 24/7, nhưng chúng ta phải gọi điện. Bạn sẽ cùng tôi kêu cầu Ngài một cách đều đặn và nhất quán chứ? Câu ngạn ngữ xưa chắc chắn đúng: không cầu nguyện, không có quyền năng; một lời cầu nguyện nhỏ, một sức mạnh nhỏ; lời cầu nguyện vĩ đại, sức mạnh to lớn!

Chúng ta hãy cùng nhau quyết tâm trở thành người có lòng cầu nguyện lớn lao. Nếu chúng ta làm như vậy, Đức Chúa Trời sẽ ban cho quyền năng to lớn.

Jeff Schreve (Nhã Ca lược dịch)

THỜI ĐIỂM CỦA CHÚA

Thơ: Thanh Hữu

“Vì con phải chờ đúng thời điểm khải tượng mới ứng nghiệm, nó hối hả chạy đến giai đoạn cuối, nó sẽ thành hiện thực. Nếu nó dường như chậm trễ, con hãy trông chờ nó, vì khải tượng chắc chắn sẽ thực hiện, không nấn ná, chần chờ” (Ha-ba-cúc 2:3 – BDM).

Đời ngắn ngủi, nhiều khi ta vội vả,
Muốn nhìn xem, một kết quả tức thì.
Cây mới trồng, mới cấy, mới thực thi,
Mong hái gặt, mùa bội thu trái ngọt.

Nhìn đường đời, nhiều chông gai, cây độc,
Ta nhủ lòng: sao Chúa để quá lâu.
Sao Ngài không chặt đứt nó thật mau,
Khỏi vướng bận cho bao người tiến bước?

Con đồng cảm, Ha-ba-cúc thời trước,
Nơi vọng canh, đã đối nại khẩn cầu. (1)
Sao người lành, bị bách hại đớn đau?
Sao kẻ ác lại hanh thông phè phỡn?

Ý muốn Chúa thật cao sâu, rộng lớn,
Chương trình Ngài thật vi diệu uyên thâm.
Đến thời điểm, kẻ ác gặt lỗi lầm, (2)
Người bất nghĩa nhận tiền công bất hạnh.

Xin cho con, đặt niềm tin vững mạnh,
Vào chương trình, vào thời điểm Chúa Cha. (3)
Vào công minh, kế hoạch Chúa tỏ ra,
Con kiên nhẫn thấy quyền năng đắc thắng.

Môi se đã, tám mươi năm yên lặng,
Để chờ ngày thấy ánh lửa bùng lên.
Đợi thời điểm Chúa chính thức gọi tên, (4)
Phục vụ Chúa, thành vĩ nhân thế giới.

Cây cổ thụ, cần trăm năm chờ đợi,
Cây nấm thường, chỉ tăng trưởng qua đêm.
Cổ thụ hơn những cây nấm yếu mềm,
Có giá trị, nhờ nắng mưa thử thách.

Ta tin tưởng vào tình yêu, kế hoạch,
Ngài sẵn dành cho những kẻ tín trung.
Ngày mai đây đến thời điểm tương phùng,
Ta mãn nguyện trong vinh quang mầu nhiệm.

THANH HỮU
Tháng 2 năm 2024

___________________________________

 MỘT CUỘC SỐNG BỊ LÃNG PHÍ

Dưỡng Linh: Greg Laurie

2-7-2024                      

Đây là lời Đức Giê-hô-va phán với Giê-rê-mi: ‘Con hãy mau xuống nhà của người thợ gốm, tại đó Ta sẽ cho con nghe lời Ta.” Tôi liền đi xuống nhà thợ gốm, và nầy, anh ta đang làm việc trên chiếc bàn xoay. (Giê-rê-mi 18:1-3).

Tiên tri Giê-rê-mi quan sát người thợ gốm kiên nhẫn tạo hình đất sét trên bàn xoay. Rõ ràng, ông đã có mục tiêu và mục đích cho mảnh đất sét đó. Nhưng một số trong số đó có khả năng chống chịu và không bẻ cong được trong tay người thợ gốm. Vì vậy, ông  gạt nó sang một bên dùng cho mục đích thấp kém hơn. Nói cách khác, đất sét không trở thành thứ mà người thợ gốm mong muốn.

Chúng ta giống như đất sét và Chúa giống như người thợ gốm. Ngài có một kế hoạch cho cuộc đời mỗi chúng ta tốt hơn bất cứ điều gì chúng ta tự hoạch định cho mình. Và chúng ta có quyền lựa chọn là chúng ta sẽ tuân theo ý muốn của Chúa cho cuộc sống của mình hay chống lại nó.

Tất nhiên, chúng ta sẽ có những thất bại trong cuộc sống. Chúng ta sẽ phải đối mặt với khó khăn và bi kịch. Chúng ta sẽ gặp phải những vấn đề không mong muốn. Nhưng chúng ta có quyền lựa chọn, là chúng ta sẽ trở nên cay đắng hay tốt hơn.

Giô-sép gặp hết thất bại này đến thất bại khác, tuy nhiên ông đã chọn hướng về Đức Chúa Trời. Thậm chí ông còn có thể nói với những người anh em đã phản bội ông: “Các anh định hại tôi, nhưng Đức Chúa Trời lại định cho nó thành điều lành, để thực hiện việc đang xảy ra hôm nay, tức là bảo tồn sự sống cho bao nhiêu người” (Sáng Thế Ký 50:20).

Ngược lại, Sam-sôn là người mà Đức Chúa Trời có thể sử dụng một cách mạnh mẽ, nhưng ông đã bỏ mạng vì phạm một số sai lầm tinh tế nhưng nghiêm trọng. Cuộc sống của ông là một cuộc sống phung phí tài nguyên và lãng phí tiềm năng. Và nó là lời cảnh báo cho chúng ta rằng một khởi đầu tốt đẹp không nhất thiết đảm bảo một kết thúc tốt đẹp.

Như Sa-lô-môn đã viết: “Kết thúc một việc tốt hơn khởi đầu việc đó; Tính kiên nhẫn tốt hơn tính tự cao.” (Truyền Đạo 7:8). Hay như Henry Wadsworth Longfellow đã nói: “Nghệ thuật của sự khởi đầu tuyệt vời nhưng nghệ thuật của sự kết thúc còn vĩ đại hơn”.

Tất nhiên, khi nghĩ đến Sam-sôn, chúng ta thường nghĩ đến việc ông phải lòng Da-li-la. Tuy nhiên, chính một loạt thỏa hiệp nhỏ cuối cùng, đã dẫn đến sự thất bại của ông.

Đức Chúa Trời đặt tay Ngài trên Sam-sôn một cách độc đáo. Về mặt thể chất, không có ai mạnh hơn. Kinh Thánh cho chúng ta biết rằng Thánh Linh của Đức Chúa Trời sẽ đến trên ông và ông sẽ làm được những chiến công phi thường, siêu phàm.

Trong cuộc đời của Sam-sôn, đó là thời kỳ rất gian ác trong lịch sử Y-sơ-ra-ên. Sách Các Quan Xét nói rằng mọi người “mọi người cứ làm theo ý mình cho là phải’ (17:6). Vì vậy, Đức Chúa Trời đã nâng ông lên lại. Ông là một trong hai người trong Cựu Ước được thiên sứ báo trước về sự ra đời và sứ mệnh của mình. Và thiên sứ nói về Sam-sôn: “Chính nó sẽ giải cứu Y-sơ-ra-ên khỏi tay dân Phi-li-tin.”(Các Quan Xét 13:5).

Sam-sôn có tiềm năng làm được những điều vĩ đại, nhưng ông đã không hoàn thành nhiệm vụ mà mình đã bắt đầu.

Cuộc sống đầy những bất ngờ. Tất cả chúng ta đều biết những người như Sam-sôn, những người có nhiều hứa hẹn nhưng chưa bao giờ phát huy hết tiềm năng của mình. Sau đó, có những người khác dường như không có nhiều hứa hẹn, nhưng ngày nay Chúa đang sử dụng họ một cách đầy quyền năng.

Chúng ta sẽ làm gì với cuộc sống mà Chúa đã ban cho? Chúng ta có một sự lựa chọn. Chúng ta sẽ tuân theo ý muốn của Chúa hay sẽ chống lại nó?

Greg Laurie (Nhã Ca lược dịch )

XUÂN ĐỊA ĐÀNG

Thơ: Thanh Hữu

 

“Thiên sứ chỉ cho tôi xem sông nước sự sống, trong như lưu ly, từ ngôi Đức Chúa Trời và Chiên Con chảy ra. Ở giữa phố thành và trên hai bờ sông có cây sự sống trổ mười hai mùa, mỗi tháng một lần ra trái; và những lá cây đó dùng để chữa lành cho các dân. (Khải Huyền 22:1-5)

Xuân địa đàng, từ khơi nguyên sáng thế,
Khi muôn loài, vạn vật được dựng nên.
Khi Thiên Chúa đem ánh sáng lập nền,
Ngài tái tạo, từ trống không mờ tối. (1)

Xuân địa đàng, khi bắt đầu khai lối,
Đã thành hình, trời đất biển trăng sao.
Để cỏ cây, hoa lá được khơi mào,
Để muôn vật, để cá tôm bơi lội.

Đây xuân thắm, đầy hiển vinh, cơ hội,
Tặng cho người, vui hưởng dụng đặc ân.
Để ngợi ca, để quản trị toàn phần, (2)
Cả thế giới, một điạ đàng muôn thuở …

Xuân vụt mất, khi con người lầm lở,
Trái lịnh trời, ăn trái cấm, tìm khôn.
Để mùa xuân tan biến khỏi thân hồn, (3)
Hạ đông đến, bao ngàn năm lạnh buốt.

Trong ân sủng, trong tình yêu cứu chuộc,
Chúa thành người, để tha tội nhân sinh.
Đem ta về mùa xuân mới tâm linh,
Tái tạo lại, xuân địa đàng đã mất.

Xuân phước hạnh, xuân bình an khắp đất,
Đã phục hồi ban tặng Cơ-đốc nhân.
Trong hoan ca, mãn nguyện khắp thiên tầng, (4)
Ta vui sống trong tin yêu hy vọng.

Ngày Chúa đến, vào vườn xuân sống động, (5)
Cả muôn loài hoa lá sẽ reo vang.
Bao thiên ngân lấp lánh ánh thiên đàng,
Bên Cứu Chúa, cả ngàn năm thịnh trị.

Xuân thiên thượng, đầy vinh quang kỳ vĩ, (6)
Trong uy quyền, trong vinh diệu tuyệt luân.
Cùng hoan ca, chúc tụng trong vui mừng,
Muôn sứ thánh hưởng mùa xuân vũ trụ.
THANH HỮU

Tháng 2 năm 2024

______________________________

Khải-huyền 22:5

NĂM MỚI ĐẾN RỒI…

Thơ: Bình Tú Ngọc

Kinh Thánh: Châm Ngôn 20:24; Thi-thiên 21:2

Năm mới đến rồi, bạn có hay
Ngoài kia bao áo mới tung bay
Hoa khoe sắc thắm cùng đây đó
Xuân về trên má đỏ hây hây…

Năm mới đã về trên quê hương
Hương Xuân lan tỏa đầy vấn vương
Nghe đâu giọng nói quê trên mạng
Nỗi nhớ quê nhà biết bao thương…

Năm mới đến rồi, hỡi người ơi
Bao nhiêu ước vọng đang gọi mời
Hoạch định tương lai đà có sẵn
Thành bại hay không bởi ý Trời 1

Năm mới về đây, lòng hỏi lòng
Mục đích cuộc đời ta ngóng trông
Phú quý, vinh hoa trong cõi tạm
Nào có đáng gì để ước mong 2

Năm mới, tương lai mời Chúa vào
Bình an, phước hạnh biết là bao
Tương lai dù ra sao chăng nữa
Cuộc đời có Chúa thỏa ước ao 3

California, Đầu Năm Mới 2024!
Bình Tú Ngọc

1 Châm Ngôn 20:24
Cũng có câu “Mưu sự tại nhân, thành sự tại Thiên” (Nghĩa là mưu sự bởi con người, nhưng thành hay bại là do Ông Trời)
2 I Giăng 2:17
3 Thi-thiên 21:2