KHÔNG CÓ NGƯỜI TRUNG LẬP

Thơ: Bình Tú Ngọc

(Dựa theo Lu-ca 23:39-43)

Hai tên cướp ngày xưa trên thập giá
Chúa Giê-su ở chính giữa hai người. 1
Một tên mắng nhiếc Chúa nhiều lời
Hãy cứu mình ngươi cùng chúng ta nữa.

Nhưng tên kia biết tội mình khó rửa
Trách nó rằng ngươi không sợ Chúa sao?
Tội ta chịu xứng với việc ta nào
Còn Giê-su không làm điều gì ác…

Quay sang Chúa, xin Ngài tha hình phạt
Nhớ đến con khi vào trong nước Ngài.
Chúa Giê-su liền đáp cách khoan thai
Ngay hôm nay, con được vào Thiên Quốc…

Hai tên cướp, hai hạng người xuyên suốt
Từ ngàn xưa cho mãi đến ngàn sau
Người chống đối, người tin nhận Chúa ngay
Trước mặt Chúa, không có người trung lập…

Cảm tạ Chúa đã cho con gia nhập
Vào đoàn quân thập tự Chúa trên trời
Xin cho con cứ theo Chúa không rời
Để rồi sẽ được cùng Ngài đồng trị. 2

Nầy hỡi bạn, đừng sợ người dị nghị
Đừng để tâm đến dư luận xung quanh.
Hãy nhìn xem Đấng Sống cách chân thành 3
Như tên cướp ngày xưa kêu cầu Chúa…

Mùa Phục Sinh 2024!
Bình Tú Ngọc

1 Giăng 19: 18
2 II Ti-mô-thê 2: 12
3 Hê-bơ-rơ 12: 2

CHUYỆN…VỖ NGỰC VÀ…ĐẤM NGỰC

Văn: MS Nguyễn Đình Liễu

Kinh Thánh: Ma-thi-ơ 24: 29-31; Lu-ca 18: 9-14; 23: 26-27; 47-48

Vỗ ngực hay đấm ngực là hai hành động thường thấy nơi con người.
Vỗ ngực nói đến một hành động bày tỏ sự khoe khoang, lên mình kiêu ngạo của một người nào đó. Còn đấm ngực là một hành động nói lên sự ân hận, ăn năn, hối lỗi của ai đó về một việc làm sai trật, xấu xa nào đó của họ.
Ca Dao có những câu nói về…đấm ngực cũng khá thú vị và đầy thương cảm:
Đôi vợ chồng nầy mới lấy nhau chưa được bao lâu, thì anh chồng phải đi lính cách xa nhà nghìn trùng, nên người vợ dậm chân đấm ngực vì bực tức cho cảnh chiến tranh làm cho họ phải chia lìa nhau:
Dậm chân đấm ngực kêu trời,
Vợ chồng chưa mấy năm trời lại xa.
Ngàn trùng xứ lạ xót xa,
Cái đời lính mộ khổ là biết bao.
Hay cô gái nọ bị hiểu lầm, oan ức thế nào đó khiến chàng trai không còn yêu nàng nữa, nàng đành đấm ngực kêu than mong cho người yêu hiểu cho nỗi oan ức mình đang chịu mà quay trở lại với mình:
Oan ức, bực tức, đấm ngực kêu thương,
Người thương tôi trở lại, khổ vô chừng bạn ơi!

Kinh Thánh có kể một câu chuyện về hai người cùng lên đền thờ cầu nguyện với Đức Chúa Trời:
“Ngài lại phán thí dụ nầy về kẻ cậy mình là người công bình và khinh dể kẻ khác: Có hai người lên đền thờ cầu nguyện: một người Pha-ri-si và một người thâu thuế. Người Pha-ri-si đứng cầu nguyện thầm như vầy: Lạy Đức Chúa Trời, tôi tạ ơn Ngài, vì tôi không phải như người khác, tham lam, bất nghĩa, gian dâm, cũng không phải như người thâu thuế nầy. Tôi kiêng ăn một tuần lễ hai lần, và nộp một phần mười về mọi món lợi của tôi. Người thâu thuế đứng xa xa, không dám ngước mắt lên trời, đấm ngực mà rằng: Lạy Đức Chúa Trời, xin thương xót lấy tôi, vì tôi là kẻ có tội! Ta nói cùng các ngươi, người nầy trở về nhà mình, được xưng công bình hơn người kia; vì ai tự nhắc mình lên sẽ phải hạ xuống, ai tự hạ mình xuống sẽ được nhắc lên” (Sách Lu-ca, chương 18, câu 9-14).
Người Pha-ri-si là hạng người được biết đến nhiều trong thời Chúa Giê-su. Pha-ri-si là tên một trong hai đảng tôn giáo của người Do-thái ngày xưa (Pha-ri-si và Sa-đu-sê). Người thuộc Đảng Pha-ri-si rất giỏi Kinh Luật của người Do-thái, vì họ là những chuyên viên Kinh Luật. Họ là thành phần bị Chúa Giê-su lên án rất mạnh mẽ, vì hầu hết trong số họ sống một lối sống giả hình, chỉ giữ Kinh Luật bề ngoài để…lòe người khác và cốt để khoe khoang mà thôi.
Chúa Giê-su đã từng căn dặn các môn đồ Ngài rằng: “Bấy giờ, Đức Chúa Giê-su phán cùng dân chúng và môn đồ Ngài rằng: Các Thầy Thông Giáo và người Pha-ri-si đều ngồi trên ngôi của Môi-se. Vậy, hãy làm và giữ theo mọi điều họ đã bảo các ngươi; nhưng đừng bắt chước việc làm của họ, vì họ nói mà không làm. Bọn ấy buộc những gánh nặng khó chịu, để trên vai người ta, còn mình thì không muốn động ngón tay vào. Họ làm việc gì cũng cố để cho người ta thấy, mang cái thẻ bài da cho rộng, xủ cái tua áo cho dài, ưa ngồi đầu trong đám tiệc, thích ngôi cao nhất trong nhà hội, muốn người ta chào mình giữa chợ, và ưng người ta gọi mình bằng thầy” (Sách Ma-thi-ơ, chương 23, câu 1-7).
Kinh Thánh ghi lại lời cầu nguyện của người Pha-ri-si như sau: “Người Pha-ri-si đứng cầu nguyện thầm như vầy: Lạy Đức Chúa Trời, tôi tạ ơn Ngài, vì tôi không phải như người khác, tham lam, bất nghĩa, gian dâm, cũng không phải như người thâu thuế nầy. Tôi kiêng ăn một tuần lễ hai lần, và nộp một phần mười về mọi món lợi của tôi.”
Dù không tìm thấy từ “vỗ ngực” nào trong lời cầu nguyện của người Pha-ri-si nầy; nhưng chúng ta thấy rất rõ “lối sống” vỗ ngực trong suốt cả bài cầu nguyện của ông ta. Ông chỉ trích người khác, cho mình mới là nhất, còn tất cả những người khác đều xấu, đều thua xa ông. Ông kiêu ngạo, khoe khoang những việc mình làm cho thiên hạ biết.
Chúng ta dễ dàng thấy hạng người “vỗ ngực” nầy trong cuộc sống đời thường hằng ngày.
Có nhiều người khi mới gặp, dù chưa ai hỏi, họ đã khoe…thành tích rồi. Nào là tôi đã từng học trường nầy, trường nọ, tốt nghiệp bằng nầy bằng kia; tôi đã từng Quản Nhiệm mấy Hội Thánh lớn, mở bao nhiêu Hội Thánh cho Chúa; tôi đã từng gặp ông lớn nầy, bà lớn kia; tôi từng đi Mỹ, đi Tây, đi Tàu…
Ngày hôm nay, người ta thường gọi hạng người hay “vỗ ngực” như thế là hạng người hay “nổ”. Một khi gặp hạng người hay “nổ” vang trời đất ấy, bạn có thể đoán biết là họ thường…không có gì cả. Ông cha ta đã có câu “Thùng rỗng kêu to” là đúng lắm vậy!
Trái ngược với hạng người “vỗ ngực” là hạng người “đấm ngực”.
Khi người Pha-ri-si kia đang “vỗ ngực” như thế thì người thâu thuế đứng xa xa và cầu nguyện:
“Người thâu thuế đứng xa xa, không dám ngước mắt lên trời, đấm ngực mà rằng: Lạy Đức Chúa Trời, xin thương xót lấy tôi, vì tôi là kẻ có tội!”
Người thâu thuế biết thân phận không ra chi của mình, nên không dám đến gần đền thờ, và cũng không dám ngước mắt lên trời nữa. Hơn nữa, ông còn “đấm ngực” mình, kêu xin Chúa thương xót, tha tội cho mình. Hành động “đấm ngực” của ông bày tỏ rằng ông nhận biết đứng trước mặt Chúa, ông không xứng đáng gì cả, vì ông quá xấu xa, tội lỗi, nên “đấm ngực”, ăn năn, xin Chúa thương yêu, tha thứ cho mình mọi vi phạm xấu xa.
Chúa Giê-su kết luận: “Ta nói cùng các ngươi, người nầy trở về nhà mình, được xưng công bình hơn người kia; vì ai tự nhắc mình lên sẽ phải hạ xuống, ai tự hạ mình xuống sẽ được nhắc lên”
Chúng ta hơi ngạc nhiên khi nghe Chúa kết luận. Theo suy nghĩ thông thường của con người, thì lẽ ra người Pha-ri-si kia được xưng công bình mới đúng chứ, vì dưới cái nhìn của con người, thì ông quá…tốt, quá…giỏi, quá…tuyệt vời. Nhưng “Đức Giê-hô-va chẳng xem điều gì loài người xem, loài người xem bề ngoài, nhưng Đức Giê-hô-va nhìn thấy trong lòng” (Sách Sa-mu-ên thứ nhất, chương 16, câu 7).
Đức Chúa Trời nhìn thấy trong lòng của tất cả mọi người. Ngài nhìn thấy trong lòng của người Pha-ri-si kia cũng như trong lòng của người thâu thuế nọ. Ngài cũng là Đấng “chống cự kẻ kiêu ngạo, nhưng ban ơn cho người khiêm nhường” (Sách Phi-e-rơ thứ nhất, chương 5, câu 5). Chính vì thế, nên Chúa cho biết người thâu thuế xấu xa kia mới là người được xưng công bình, chứ không phải là người Pha-ri-si đạo đức đâu.
Người thâu thuế kia để lại cho bạn và tôi một bài học thật quý: Hãy sống một đời sống hạ mình, khiêm nhường trước mặt Chúa và người khác để được Chúa thương xót và ban phước, vì không ai trong chúng ta là xứng đáng hay tốt đẹp, đạo hạnh khi đứng trước mặt Đức Chúa Trời thánh khiết tuyệt đối đâu.

Kinh Thánh cũng có nói đến nhiều người sẽ “đấm ngực” khi thấy Chúa từ trời trở lại trần gian để đón rước những người thuộc về Ngài về Thiên Đàng:
“Sự tai nạn của những ngày đó vừa mới qua, thì mặt trời liền tối tăm, mặt trăng không sáng, các ngôi sao từ trên trời sa xuống, và thế lực của các từng trời rúng động. Khi ấy, điềm Con người sẽ hiện ra ở trên trời, mọi dân tộc dưới đất sẽ đấm ngực, và thấy Con người lấy đại quyền đại vinh ngự trên mây trời mà xuống. Ngài sẽ sai thiên sứ mình dùng tiếng kèn rất lớn mà nhóm lại những kẻ đã được lựa chọn của Ngài ở khắp bốn phương, từ cuối phương trời nầy cho đến tận phương kia” (Sách Ma-thi-ơ, chương 24, câu 29-31).
Hành động “đấm ngực” của mọi dân tộc được nói đến ở đây là nói về sự hối tiếc, tiếc nuối của họ vì đã không tin Chúa, nên không được Chúa rước về Thiên Đàng để hưởng mọi phước hạnh tuyệt vời như những người tin Chúa. Họ phải hứng chịu những tai nạn kinh khiếp đổ xuống đất trong kỳ đại nạn.
Khi Chúa Giê-su chịu đóng đinh trên thập tự giá năm xưa, Kinh Thánh ghi lại có những người đàn bà đã “đấm ngực” mà khóc: “Khi chúng điệu Đức Chúa Giê-su đi, bắt một người xứ Sy-ren, tên là Si môn, từ ngoài đồng về, buộc phải vác cây thập tự theo sau Ngài. Có đoàn dân đông lắm đi theo Đức Chúa Giê-su, và có mấy người đàn bà đấm ngực khóc về Ngài” (Sách Lu-ca, chương 23, câu 26, 27).
Mấy người đàn bà “đấm ngực” khóc về Ngài, vì thương yêu Ngài, một con người vô tội mà phải chịu chết một cách đau thương như thế. Họ đấm ngực cũng vì tiếc nuối đã không hết lòng hầu việc Ngài khi Ngài còn đang sống và đang ở bên mình. Bây giờ dù có muốn hầu việc cũng đã hết cơ hội rồi.
Cũng có nhiều người khác “đấm ngực” nữa: “Thầy đội thấy sự đã xảy ra, ngợi khen Đức Chúa Trời rằng: Thật người nầy là người công bình. Cả dân chúng đi xem, thấy nông nỗi làm vậy, đấm ngực mà trở về” (Sách Lu-ca, chương 23, câu 47, 48). Những người nầy “đấm ngực” có lẽ vì mình đã làm điều sai, đã đồng ý để người ta đóng đinh Ngài, một người công bình vô tội. Họ đấm ngực có lẽ vì đã hối tiếc về những việc làm sai trái của mình với Chúa Giê-su.

Nhân mùa Lễ Kỷ Niệm sự Thương Khó và Phục Sinh của Chúa Giê-su, chúng ta cùng suy nghĩ vài điều về hai hành động “vỗ ngực” và “đấm ngực” mà Kinh Thánh đề cập đến.
Chúa Giê-su đã chịu chết thay trên thập tự giá vì tội lỗi của hết thảy mỗi một chúng ta, chúng ta phải luôn luôn ghi lòng tạc dạ tình yêu thương quý báu vô ngần ấy của Chúa mà hết lòng yêu mến và hầu việc Ngài ngay khi còn sống trên trần gian nầy, để không phải đấm ngực hối tiếc khi không còn cơ hội dịp tiện được phục vụ Ngài nữa.
Những độc giả chưa tin nhận Chúa cũng cần nhận biết được tình yêu thương lớn lao của Chúa dành cho mình mà sớm mở lòng ra tin nhận Ngài; hầu không phải đấm ngực hối tiếc như những người không tin Chúa đấm ngực hối tiếc khi thấy những người tin Chúa được tiếp về Thiên Đàng hưởng phước hạnh tuyệt vời bên Chúa yêu thương trong tương lai.
Nguyền xin Chúa dùng bài viêt đơn sơ nầy để khích lệ những người đọc cũng như những người nghe!
Kính chúc mọi người một Lễ Thương Khó nhiều ý nghĩa, và một Lễ Phục Sinh tràn đầy niềm vui và phước hạnh từ Chúa phục sinh ban cho!

Mùa Thương Khó Và Phục Sinh 2024!
Mục Sư Nguyễn – Đình – Liễu

CA NGỢI CHÚA PHỤC SINH CÙNG NHÀ THƠ THANH HỮU

Văn: MS Nguyễn Đình Liễu

Kinh Thánh: Ma-thi-ơ 28: 6

Thơ Phục Sinh của Nhà Thơ Thanh Hữu đem lại nhiều sự khích lệ cho con dân Chúa trên linh trình đức tin.
Như bạn đã biết, Thanh Hữu là Nhà Thơ Cơ-đốc kỳ cựu nổi tiếng trên văn đàn Cơ-đốc lâu nay. Ông sáng tác rất nhiều thơ với nhiều thể loại khác nhau để ca ngợi Đấng mà ông đang tôn thờ là Chúa Cứu Thế Giê-su.
Nhân mùa Phục Sinh 2024, xin mời bạn cùng thưởng thức những vần thơ của Thanh Hữu viết về Phục Sinh.
Khi nói đến sự phục sinh của Chúa Giê-su là ta đang nói đến một Tin Mừng vĩ đại hơn hết cho nhân loại trải qua mọi thời đại, vì nếu Chúa Giê-su chết mà nằm luôn trong phần mộ thì Ngài cũng chỉ như các Giáo Chủ của thế gian nầy, không hơn không kém. Thanh Hữu viết:
Nếu Chúa không sống lại từ cõi chết,
Thì ngày nay, ta có một nấm mồ.
Ta còn lại một lăng tẩm thật to,
Còn xương cốt, còn tóc râu xá lợi.
(Nếu Chúa Không Sống Lại)
Cảm tạ Chúa, Ngài đã sống lại cách vinh hiển, bứt đứt dây trói của sự chết, bẻ gãy nọc độc của tội lỗi. Cho nên, Ngài không để lại tro xương hay sợi tóc nào cả cho người ta ngắm nhìn, chiêm nghiệm như các Giáo Chủ của đời nầy:
Chúa đã sống, ta không còn chờ đợi,
Để ngắm nhìn di tích với tro xương.
Không tham dự ngày giỗ tế cúng dường,
Cho giáo chủ, cho tượng thần gỗ đá.
(Nếu Chúa Không Sống Lại)

Chúa sống lại chứng tỏ Ngài là Đấng có quyền năng trên toàn cõi vũ trụ nầy và quyền năng ấy là đời đời mãi mãi:
Chúa sống lại, cầm quyền trên thời cuộc,
Trên đế quyền, trên chính trị nhân sinh.
Trên lịch sử, trên biến chuyển hành tinh,
Từ sáng thế đến tận cùng vô cực.
(Nếu Chúa Không Sống Lại)
Sự kiện Chúa Giê-su sống lại từ trong kẻ chết là sự kiện rất quan trọng, vì nó mở ra cho nhân loại một con đường cứu rỗi duy nhất, một sinh lộ duy nhất để vào Thiên Đàng:
Chúa chết thế, ban cho ta sự sống,
Bởi năng quyền, Ngài sống lại hiển vinh.
Đã mở ra, sinh lộ mới linh trình,
Cho nhân thế bước vào vương quốc thánh.
(Hy Vọng Phục Sinh)
Mỗi một khi nhắc đến câu chuyện Phục Sinh kỳ diệu của Chúa Giê-su, ta không thể nào không nhắc đến một việc làm rất đáng ghi nhớ của một nhân vật có một đức tin rất đáng trân trọng, đó chính là Giô-sép, người A-ri-ma-thê.
Giô-sép người A-ri-ma-thê sau khi nghe tin Chúa Giê-su đã chết, ông liền đến gặp Tổng Đốc Phi-lát để xin xác Chúa đem về chôn trong ngôi mộ mới của mình. Đó là một hành động đáng ngưỡng mộ:

Tôi ngưỡng mộ, tâm tình ông Giô-sép,
Người đã dâng ngôi mộ mới của mình.
Cho Cứu Chúa, khi Ngài đã hy sinh,
Trên thập giá hơn hai nghìn năm trước…
Chúa đã chết, lòng tín trung kiên định,
Ông đi vào, gặp Phi-Lát cầu xin.
Đem xác Ngài, khâm liệm cách tận tình,
Rồi chôn cất trong mộ mình yêu quí.

(Dâng Mộ Cho Chúa Phục Sinh)
Dù Chúa Giê-su chỉ nằm trong ngôi mộ của ông Giô-sép dâng cho có ba ngày thôi, nhưng việc làm đầy đức tin và can đảm của ông đã để lại cho hậu thế một tấm gương tin kính rất đáng nể. Và việc làm mà ít ai muốn làm ấy của ông đã vẫn còn lưu lại mãi cho bao thế hệ học biết và ghi nhớ, giống như câu chuyện bà Ma-ri xức dầu thơm chân Chúa trước khi Ngài lên thập tự giá chịu chết thay cho tội lỗi của con người, và mùi hương của dầu thơm tuyệt vời ấy của bà vẫn còn lan tỏa cho đến ngày hôm nay:

Chúa sử dụng ngôi mộ ba ngày trọn,
Nhưng việc lành, bao thế hệ truyền lưu.
Từ xưa nay, lũ lượt bao triệu người,
Thăm xứ thánh, ngắm xem ngôi mộ trống.

(Dâng Mộ Cho Chúa Phục Sinh)
Nếu Chúa Giê-su chết và nằm yên luôn trong mộ như bao Giáo Chủ của thế gian, thì ta có thể tin vào bất cứ Giáo Chủ nào cũng được, không cần phải tin Chúa Giê-su làm chi; vì Chúa Giê-su đâu có khác gì với các Giáo Chủ kia:
Nếu Chúa chết cứ nằm yên trong mộ
Đợi tháng ngày thân rữa nát bụi tro
Chờ thời gian thu nhặt di hài khô
Ta sùng kính những ngọc xương xá lợi.

Nếu Chúa chết cứ nằm yên trong mộ
Ta chọn ngày để tưởng niệm vĩ nhân
Cứ mỗi năm ta kỷ niệm một lần
Ta tán tụng, rồi thời gian quên lãng.

Nếu Chúa chết cứ nằm yên trong mộ
Ta ngăn thành đắp lũy để xây lăng
Ta dựng bia cẩm thạch ta dát vàng
Ta mời gọi nhân gian thăm thánh địa.
(Chúa Đã Sống Lại II)
Nhưng không, Chúa Giê-su khác với tất cả các Giáo Chủ của trần gian nầy. Ngài đã chết như các Giáo Chủ kia, được chôn trong mộ như các Giáo Chủ ấy; nhưng sau ba ngày, Ngài đã sống lại và sống muôn đời, không bao giờ chết nữa:

Chúa đã sống, Ngài bước ra khỏi mộ
Ta không cần ngọc xá lợi suy tôn
Sống vinh quang hơn tang chế u buồn
Thắng sự chết hơn khóc than tưởng niệm.
(Chúa Đã Sống Lại II)

Chúa phục sinh đem lại nhiều ơn phước tuyệt vời cho những người tin nhân Ngài. Chúa phục sinh mở ra cho những ai đặt đức tin nơi Đấng Sống một con đường mới để về Thiên Đàng. Chúa phục sinh đem lại một niềm tin đắc thắng vĩnh cửu cho người thuộc về Ngài. Chúa phục sinh lau khô hết những giọt lệ khổ đau và làm cho cuộc đời của những người tin Ngài được thăng hoa:
Phục sinh tặng bạn phước ân:
Tin Chúa sống lại hưởng phần vĩnh sinh,
Mai đây chấm dứt hành trình,
Phục sinh mở lối hồn linh về trời.

Phục sinh đắc thắng tuyệt vời,
Mời bạn nhận lấy để đời thăng hoa,
Phục sinh phần mộ mở ra,
Chúa lau giọt lệ dẫn ta về trời.
(Phục Sinh Đắc Thắng Tuyệt Vời)
Ngôi mộ trống là một trong những bằng chứng hùng hồn, sống động về sự phục sinh của Chúa Giê-su.
Còn nhớ lời Thiên Sứ ngay trong buổi sáng phục sinh năm xưa đã phán thật rõ ràng: “Ngài không ở đây đâu! Ngài sống lại rồi, như lời Ngài đã phán. Hãy đến xem chỗ Ngài đã nằm” (Sách Ma-thi-ơ, chương 28, câu 6).
Đó quả là những lời đầy vui mừng, đầy hy vọng cho những tín nhân của Chúa trải mọi thời đại.
Chúa Giê-su không để lại dù chỉ một cái xương, cái răng hay sợi tóc nào trong mộ như các Giáo Chủ của thế gian đã để lại cho tín đồ của họ để nhang khói, chiêm bái, phụng thờ:
Chúa đã sống, không cần xương xá lợi,
Không đền đài, không bia, mả, mộ lăng.
Không khói nhan, không bái cúng hương đèn,
Không kỳ vọng, không cầu ơn thánh địa.
(Chúa Đã Sống, Không Còn Xương Xá Lợi)
Chúa sống lại là một minh chứng sống động về Ngài là Đấng toàn năng, Đấng duy nhất đắc thắng tử thần, đắc thắng Ma Vương, và đang tể trị cả kiền khôn vũ trụ:
Ta chúc tụng, Chúa quyền oai sống lại
Bẻ gãy xiềng, tung cửa ách ma vương
Ngài lên cao nhận uy lực thiên đường
Đang tể trị cõi càng khôn vũ trụ.
(Khải Tượng Phục Sinh)
Năng quyền phục sinh của Đấng Sống cũng được ban cho những người thuộc về Ngài để họ có thể ra lịnh cho các tà linh phải quy phục, truyền cho chúng phải im hơi lặng tiếng, hủy bỏ những thần tượng ô uế, xấu xa.
Hãy cùng với Nhà Thơ Thanh Hữu nhân danh quyền năng của Chúa Giê-su phục sinh mà truyền lịnh cho các tà linh, tà thần ô uế, tà thuyết sai lầm cùng mọi âm binh phù chú phải khuất phục chúng ta:

Hãy cúi xuống, những tà linh dẫn dụ
Đã nhận chìm dân tộc bốn ngàn năm
Ta chống người, trong Danh Chúa siêu phàm
Hãy cột trói quăng ngươi vào hoả ngục.

Hãy quì mọp. Các tà thần khuất phục
Đem tượng hình gieo rắc khắp Việt Nam
Khiển trách ngươi trong danh Chúa siêu phàm
Ta hũy bỏ mọi tượng thần ô uế.

Hãy run rẩy, các âm binh phù chú
Đem hương tàn cúng bái khắp quê hương
Đem bói khoa, bùa ngãi khắp nẽo đường
Ta khiển trách. Truyền ngưng ngay tức khắc.

Những tà thuyết với âm mưu thuyết phục
Đem vô thần, đem mê tín, dị đoan
Đem hư vô, đem chia rẽ, hoang tàn
Ta đối kháng, truyền cho ngươi im tiếng.
(Khải Tượng Phục Sinh)

Và rồi, ta hãy cùng cầu nguyện cho dân tộc Việt Nam yêu dấu của mình ngày càng có nhiều người nhận biết quyền năng Chúa phục sinh, để rồi sớm mở lòng ra tin Chúa, nhận hồng ân cứu rỗi của Ngài như Nhà Thơ đã mong ước, khẩn nguyền:

Ồ, ta thấy trăm triệu người dân Việt
Đã quay về nhận cứu rỗi hồng ân
Tiếng hoan ca vang dội cả thiên tầng
Lời chúc tụng như ngập tràn biển lớn.

Toà án trắng, ta cúi đầu yên lặng
Khóc vui mừng ngợi khen Chúa toàn năng
Nhìn đồng hương, ôi.. sa số thiên hằng
Đang bước tới nơi Thiên Đàng vinh hiển.
(Khải Tượng Phục Sinh)

Một trong những lý do khiến tôi yêu thích thơ Thanh Hữu là thơ ông lấy nguồn cảm hứng từ Kinh Thánh là quyển sách mà tôi yêu mến hơn mọi quyển sách khác trong cuộc đời nầy. Cho nên, đọc thơ Thanh Hữu, tôi được khích lệ nhiều trong đức tin theo Chúa.
Còn nhiều những vần thơ hay về đề tài Phục Sinh của Nhà Thơ Thanh Hữu nữa, nhưng trong bài viết ngắn ngủi nầy, ta không đủ thì giờ thưởng thức được nhiều hơn. Nếu bạn yêu mến thơ Thanh Hữu, xin mời vào trang mạng Vietchristian.com, bấm vào mục “Tìm”, chọn cửa sổ “Vườn Thơ”, rồi bấm vào chữ “TÁC GIẢ”, tìm tên Thanh Hữu, thì bạn sẽ thấy hiện ra hàng trăm bài thơ của Nhà Thơ, tha hồ thưởng thức.
Trong “Vườn Thơ” của Vietchristian.com, còn có nhiều Nhà Thơ Cơ-đốc khác, bạn tự do khám phá, tự do thưởng thức để cùng ca ngợi Chúa quyền năng của chúng ta.
Xin có lời cảm ơn Nhà Thơ Thanh Hữu đã sáng tác được nhiều những vần thơ hay, sâu sắc ca ngợi Chúa kính yêu, trong đó có những vần thơ về chủ đề Phục Sinh đầy tin yêu và hy vọng.
Kính chúc bạn đọc gần xa một Lễ Phục Sinh nhiều niềm vui từ Chúa phục sinh ban cho!

California, Mùa Phục Sinh 2024!
Mục Sư Nguyễn – Đình – Liễu

CHUYỆN VỀ…NHỮNG NGƯỜI NỮ TRONG SỰ KIỆN THƯƠNG KHÓ VÀ PHỤC SINH CỦA CHÚA GIÊ-SU NĂM XƯA

Văn: MS Nguyễn Đình Liễu

Kinh Thánh: Mác 15: 39-41; 16: 1-6; 9-11; Lu-ca 24: 1-11

Những người tin Chúa trên khắp địa cầu đang hướng lòng mình về sự Thương Khó và Phục Sinh của Chúa Giê-su.
Những ngày lễ đặc biệt của người tin Chúa trên khắp hoàn vũ như Giáng Sinh, Thương Khó, Phục Sinh, Thăng Thiên ngày nay có thể nói đã trở thành những ngày Lễ chung cho rất nhiều người, dù họ chưa phải là tín đồ của Chúa.
Nhân mùa Thương Khó và Phục Sinh năm nay, xin mời bạn cùng tôi lần theo Kinh Thánh trở về với hai sự kiện trọng đại là Chúa chịu chết và sống lại cách đây gần hai ngàn năm, để cùng học hỏi đức tin theo Chúa của những người nữ có mặt trong hai sự kiện không thể nào quên được ấy.
Nếu trong mùa Giáng Sinh, chúng ta không thể nào không nhắc đến đức tin của những người nữ nổi tiếng là Ma-ri, mẹ phần xác của Chúa Giê-su, bà Ê-li-sa-bét, mẹ của Tiên Tri Giăng Báp-tít và bà Tiên Tri An-ne (Sách Lu-ca, chương 1, và 2); thì trong mùa Thương Khó và Phục Sinh, chúng ta cũng không thể nào không nhắc đến những người nữ nổi tiếng hiện diện trong hai sự kiện Chúa chịu chết và sống lại năm xưa.
Chúng ta thường nói, những người đàn ông là…phái mạnh, nghĩa là những người mạnh mẽ, can đảm, và những người phụ nữ là…phái yếu, nghĩa là những người những người yếu đuối, nhút nhát. Nhưng trong trường hợp những người nữ hiện diện khi Chúa Giê-su chịu chết và sống lại cách đây gần hai ngàn năm trước thì khác. Họ lại là những người nữ can đảm, mạnh mẽ đến không ngờ.
Chúng ta hãy cùng xem Kinh Thánh nói về những người nữ ấy.
Trong khi Đức Chúa Giê-su bị bắt thì Kinh Thánh cho biết: “Đức Chúa Giê-su phán cùng chúng rằng: Các ngươi đem gươm và gậy đến mà bắt Ta, khác nào như Ta là kẻ cướp. Ta thường ngày ngồi trong đền thờ và giảng dạy tại đó, mà các ngươi không bắt Ta. Nhưng mọi điều ấy phải xảy đến, hầu cho những lời các Đấng tiên tri đã chép được ứng nghiệm. Khi ấy, hết thảy môn đồ bỏ Ngài mà trốn đi” (Sách Ma-thi-ơ, chương 26, câu 55, 56).
“Có một người trẻ tuổi kia theo Ngài, chỉ có cái khăn bằng gai trùm mình, chúng bắt người. Nhưng người bỏ khăn lại, ở truồng chạy trốn khỏi tay chúng” (Sách Mác, chương 14, câu 51).
“Chúng điệu Đức Chúa Giê-su đến nơi thầy cả thượng phẩm, có hết thảy thầy tế lễ cả, trưởng lão và thầy thông giáo nhóm họp tại đó. Phi-e-rơ theo Ngài xa xa” (Sách Mác, chương 14, câu 53, 54).
Những môn đồ là những người trưởng thành thuộc linh đều bỏ trốn hết khi Chúa Giê-su bị bắt. Còn chàng thanh niên trai trẻ đầy sức sống nọ cũng vì sợ hãi đến nỗi phải ở truồng chạy trốn. Phi-e-rơ là vị Sứ Đồ nổi tiếng là can đảm, đã từng hùng hồn tuyên bố sẽ dám chết với Thầy, chứ không bao giờ chối bỏ Thầy đâu, thì lại theo Ngài xa xa đến tội nghiệp, và rồi sau đó chối bỏ Thầy mình cách không thương tiếc đến ba lần.
Ngược lại, khi Chúa đang bị đóng đinh thì có ít nhất ba người nữ ở bên cạnh Ngài: “Tại một bên thập tự giá của Đức Chúa Giê-su, có mẹ Ngài đứng đó, với chị mẹ Ngài là Ma-ri vợ Cơ-lê-ô-ba và Ma-ri Ma-đơ-len nữa” (Sách Giăng, chương 19, câu 25).
Rồi khi Chúa Giê-su chịu chết, Kinh Thánh cho biết cũng có nhiều người nữ hiện diện tại thời điểm đó: “Thầy đội đứng đối ngang Ngài, thấy Ngài trút linh hồn như vậy, thì nói rằng: Người nầy quả thật là Con Đức Chúa Trời. Lại có những đàn bà đứng xa xa mà xem. Trong số ấy có Ma-ri, Ma-đơ-len, Ma-ri là mẹ Gia-cơ nhỏ, và Giô-sê, cùng Sa-lô-mê, là ba người đã theo hầu việc Ngài khi Ngài ở xứ Ga-li-lê; cũng có nhiều đàn bà khác nữa, là những người đã theo Ngài lên thành Giê-ru-sa-lem… Vả, Ma-ri Ma-đơ-len cùng Ma-ri mẹ Giô-sê, đều thấy chỗ táng Ngài” (Sách Mác, chương 15, câu 39-41; và câu 47).
Khi Chúa đã sống lại vào sáng sớm của ngày thứ nhất trong tuần lễ, Kinh Thánh cũng ghi lại có sự hiện diện đầu tiên của những người nữ: “Ngày Sa-bát qua rồi, Ma-ri Ma-đơ-len, Ma-ri mẹ Gia-cơ, cùng Sa-lô-mê mua thuốc thơm đặng đi xức xác Đức Chúa Jêsus. Ngày thứ nhất trong tuần lễ, sáng sớm, mặt trời mới mọc, ba người đến nơi mộ, nói cùng nhau rằng: Ai sẽ lăn hòn đá lấp cửa mộ ra cho chúng ta? Khi ngó xem, thấy hòn đá đã lăn ra rồi; vả, hòn đá lớn lắm. Đoạn, họ vào nơi mộ, thấy một người trẻ tuổi ngồi bên hữu, mặc áo dài trắng, thì thất kinh. Song người nói cùng họ rằng: Đừng sợ chi, các ngươi tìm Đức Chúa Jêsus Na-xa-rét, là Đấng đã chịu đóng đinh; Ngài sống lại rồi, chẳng còn ở đây; hãy xem nơi đã táng xác Ngài” (Sách Mác, chương 16, câu 1-6).
Rõ ràng trong biến cố Chúa chịu chết và sống lại năm xưa, không phải những người nam, ngay cả các Sứ Đồ, mà bèn là những người nữ mới là những người đã có mặt tại đó sau cùng và trước hết.
Khi Chúa chịu chết, có đến ba người nữ được nêu tên là Ma-ri Ma-đơ-len, Ma-ri là mẹ Gia-cơ nhỏ, và Giô-sê, cùng Sa-lô-mê, cũng như nhiều những người nữ khác không nêu tên đã tận mắt chứng kiến thời khắc lịch sử của nhân loại là Chúa Giê-su, Đấng Cứu Thế của tội nhân đã tắt thở.
Không dừng lại ở đó, trong sự việc chôn Chúa, ngoài hai người nam được Đức Chúa Trời chuẩn bị cho việc chôn xác Chúa Giê-su là Giô-sép, người ở thành A-ri-ma-thê, là Nghị Viên Tòa Công Luận, và Ni-cô-đem là Giáo Sư của dân Do-thái; còn có sự chứng kiến của những người nữ: “Các người đàn bà đã từ xứ Ga-li-lê đến với Đức Chúa Jêsus, theo Giô-sép, xem mả và cũng xem xác Ngài đặt thể nào. Khi trở về, họ sắm sửa những thuốc thơm và sáp thơm. Ngày Sa-bát, họ nghỉ ngơi theo luật lệ” (Sách Lu-ca, chương 23, câu 55, 56).
Dầu có nhiều người, trong đó có cả các Sứ Đồ của Chúa, khi Ngài bị bắt và chịu chết trên thập tự giá, đều bỏ Ngài mà trốn hết; nhưng có nhiều người nữ vẫn theo Ngài đến cùng, tận mắt chứng kiến thời khắc Chúa trút hơi thở cuối cùng, và cũng chứng kiến việc chôn Chúa nữa.
Thật đáng nể cho tấm lòng yêu mến Chúa và đức tin đặt nơi Ngài của những người nữ năm xưa!

Trong sự kiện Chúa Giê-su sống lại, những người nữ cũng là những người diện kiến Chúa phục sinh trước hết, chứ không phải là những người nam mạnh mẽ.
Kinh Thánh xác nhận, người nữ đầu tiên diện kiến Chúa sống lại tên là Ma-ri Ma đơ len:
“Vả, Đức Chúa Jêsus đã sống lại buổi sớm mai ngày thứ nhất trong tuần lễ, thì trước hết hiện ra cho Ma-ri Ma-đơ-len, là người mà Ngài đã trừ cho khỏi bảy quỉ dữ. Người đi đem tin cho những kẻ theo Ngài khi trước, và nay đang tang chế khóc lóc. Nhưng các người ấy vừa nghe nói Ngài sống, và người từng thấy Ngài, thì không tin” (Sách Mác, chương 16, câu 9-11).
Chúa phục sinh cũng hiện ra cho những người nữ khác ngoài Ma ri Ma đơ len, như là Gian nơ, Ma-ri, mẹ Gia cơ và các người nữ khác nữa. Hơn thế nữa, những người nữ cũng chính là những người rao tin mừng Chúa sống lại đầu tiên:
“Ngày thứ nhất trong tuần lễ, khi mờ sáng, các người đàn bà ấy lấy thuốc thơm đã sửa soạn đem đến mồ Ngài. Họ thấy hòn đá đã lăn ra khỏi cửa mồ; nhưng bước vào, không thấy xác Đức Chúa Jêsus. Đang khi không biết nghĩ làm sao, xảy có hai người nam mặt áo sáng như chớp, hiện ra trước mặt họ. Họ đang thất kinh, úp mặt xuống đất; thì hai người ấy nói rằng: Sao các ngươi tìm người sống trong vòng kẻ chết? Ngài không ở đây đâu, song Ngài đã sống lại. Hãy nhớ khi Ngài còn ở xứ Ga-li-lê, phán cùng các ngươi thể nào, Ngài đã phán rằng: Con người phải bị nộp trong tay kẻ có tội, phải bị đóng đinh trên cây thập tự, và ngày thứ ba phải sống lại. Họ bèn nhớ lại những lời Đức Chúa Jêsus đã phán. Họ ở mồ trở về, rao truyền mọi sự ấy cho mười một sứ đồ và những người khác. Ấy là Ma-ri Ma-đơ-len, Gian-nơ, và Ma-ri mẹ của Gia-cơ, cùng các đàn bà khác đi với họ đã rao truyền như vậy cho các sứ đồ. Song các sứ đồ không tin, cho lời ấy như là hư không” (Sách Lu-ca, chương 24, câu 1-11).
Rõ ràng, tấm lòng yêu mến Chúa của những người nữ năm xưa đã được Chúa đáp đền, ấy là họ được diện kiến Chúa phục sinh trước tất cả mọi người và là những người đầu tiên rao truyền tin mừng phục sinh vĩ đại cho người khác. Há đó không phải là một phước hạnh lớn sao?
Tuy nhiên, có một điều…đáng tiếc ở đây nơi những người nữ năm xưa trong sự kiện Chúa phục sinh, ấy là việc họ đã mang thuốc thơm đi để xức xác Chúa vào buổi sáng phục sinh.
Lẽ ra, nếu họ ghi nhớ lời Chúa đã dạy cho họ trước đó nhiều lần, thì họ sẽ không cần phải mang thuốc thơm theo để xức xác Chúa làm gì, vì họ biết Chúa sẽ sống lại sau ba ngày nằm trong phần mộ. Nhưng tiếc thay, vì quên mất lời Chúa dạy, nên họ đã mang thuốc thơm theo xức xác Ngài, để rồi cuối cùng không xức được xác Chúa chi cả. Đó là việc làm không cần thiết, nếu không muốn nói là việc làm…dư công của họ. Hay nói như Đại Thi Hào Nguyễn Du đã nói “Yêu nhau thì lại bằng mười phụ nhau” vậy.
Tôi tin rằng trong buổi sáng phục sinh năm xưa, trong số những người nữ mang thuốc thơm theo đặng xức xác Chúa, không có Ma ri, em của La xa rơ và Ma thê, vì bà là người đã từng “ngồi dưới chân Chúa mà nghe lời Ngài” (Sách Lu-ca, chương 10, câu 39) và bà là người đã dành cả một chai dầu thơm rất quý giá đập bể ra mà xức cho Ngài trước khi Ngài lên thập tự giá chịu chết vì tội nhân loại (Sách Giăng, chương 12, câu 3). Bà đã xức xác Chúa rồi, và bà cũng biết chắc Chúa sẽ sống lại sau ba ngày nằm trong phần mộ, nên chắc chắn bà sẽ không mang thuốc thơm đến để xức xác Chúa trong buổi sáng phục sinh đầu tiên ấy.
Kinh Thánh cho chúng ta biết người nữ là giống yếu đuối (Sách Phi-e-rơ thứ nhất, chương 3, câu 7), nên dễ bị dỗ dành hơn người nam, như Ê va đã bị ma quỷ dỗ dành trong vườn Ê đen xưa, chứ không phải A đam: “Lại không phải A đam bị dỗ dành, bèn là người đàn bà bị dỗ dành mà sa vào tội lỗi” (Sách Ti-mô-thê thứ nhất, chương 2, câu 14).

Đó là điều phổ biến; nhưng có những trường hợp ngoại lệ, như trường hợp những người nữ trong hai sự kiện Chúa chịu chết và sống lại năm xưa. Họ lại là những người rất can đảm, mạnh mẽ theo Chúa cho đến cùng, đến nỗi chứng kiến cả sự việc Chúa tắt thở và việc chôn Chúa nữa. Chính vì vậy, họ được Chúa ban thưởng là được diện kiến Chúa sống lại đầu tiên và là những người rao giảng tin mừng phục sinh trước hết.
Nguyện xin Chúa dùng tấm gương tin kính của những người nữ trong sự kiện Chúa chịu chết và sống lại năm xưa nầy để nhắc nhở đức tin theo Chúa của chúng ta ngày nay. Xin Chúa cho chúng ta hết lòng tin Chúa, theo Chúa cho đến cùng, chắc chắn chúng ta sẽ được Chúa ban thưởng trong ngày Ngài trở lại trong tương lai chẳng sai.
Kính chúc mọi người, nói chung và những người nữ, nói riêng một Lễ Phục Sinh tràn đầy niềm vui và hạnh phước từ Đấng Sống ban cho!

California, Mùa Phục Sinh 2024!
Mục Sư Nguyễn Đình Liễu

CHÚA YÊU TA THẬT LÀ NHIỀU

Thơ: Bình Tú Ngọc

Kinh Thánh: Rô-ma 8: 32; II Cô-rinh-tô 5: 21; I Giăng 4: 9.

Chúa yêu ta thật là nhiều
Đồi kia chịu chết một chiều năm xưa.
Lời cuối khi chết Ngài thưa
“Xong rồi mọi sự” 1, Cha vừa lòng thay!
Tình yêu Thiên Chúa tỏ bày 2
Hy sinh mạng báu Ngài ngay tiếc gì. 3
Giê-su chẳng có tội chi 4
Chịu làm sinh tế chết đi cứu người 5.
Tình yêu của Chúa đời đời
Mấy ngàn năm vẫn gọi mời chúng ta.
Tình yêu Thiên Chúa thiết tha
Mấy ngàn năm chẳng phôi pha, nhạt nhòa…

Còn ta yêu Chúa qua loa
Mờ mờ ảo ảo, mù sa nhát gừng.
Bình yên thì thấy vui mừng
Khó khăn, thử thách, ta thường oán than.
Chúa yêu ta thật rõ ràng
Mà ta yêu Chúa làng nhàng, lơ mơ…

Chúa yêu con thật vô bờ
Cho con yêu Chúa đơn sơ, thật lòng…

Mùa Chay 2024!
Bình Tú Ngọc

1 Giăng 19: 30
2 I Giăng 4: 9
3 Rô-ma 8: 32
4 II Cô-rinh-tô 5: 21
5 Giăng 1: 29

KHÔNG DỄ GÌ…

Thơ: Bình Tú Ngọc

Kinh Thánh: Rô-ma 5: 8; Phi-líp 2: 7, 8

Không dễ gì ta từ bỏ “cái tôi”
Chịu thua thiệt để hướng về người khác.
Không dễ gì ta muốn làm tôi tớ
Phục vụ người một cách tự nguyện đâu…

Không dễ gì ta có thể hạ mình
Chịu vâng phục mà không hề ta thán.
Không dễ gì để sống cách khiêm nhường
Xem người khác trọng hơn mình đâu nhé…

Đó là điều thường thấy trong nhân thế
Với con người vốn tội lỗi như ta…

Chúa Giê-su sống đời sống khác xa
Ngài từ bỏ mọi phú quý, vinh hoa 1
Lìa Thiên Đàng làm người nơi hạ giới
Phục vụ người như tôi tớ đó thôi 2…

Ngài hạ mình để sống giữa cuộc đời 3
Sống vâng phục đến hy sinh mạng sống
Ngài đã chết trên thập giá nơi đồi
Huyết vô tội đổ ra vì ta đó 4…

Chúa Giê-su, Đấng tuyệt vời thấy rõ
Vì yêu người Ngài chấp nhận hy sinh 5
Trên đồi xưa, Ngài nhận lấy thập hình
Chúa đã chết để cho ta được sống…

Ôi, tình Chúa yêu ta thật lớn rộng
Dầu trời cao, dầu biển cả sánh đâu
Tình yêu Chúa là tình yêu nhiệm mầu
Mời bạn đến đón nhận tình yêu Chúa…

Chúa Giê-su vì tội ta chịu chết 6
Rồi phục sinh cách vinh hiển khải hoàn
Ngài sống lại, Ngài đắc thắng Sa-tan
Bạn tin Chúa, sẽ cùng Ngài đắc thắng…
Mùa Thương Khó và Phục Sinh 2024!

Bình Tú Ngọc

1 và 2 Phi-líp 2: 7
3 Phi-líp 2: 8
4 Ma-thi-ơ 27: 4
5 Rô-ma 5: 8
6 Hê-bơ-rơ 2: 9

MÙA CHAY, NÓI CHUYỆN…YÊU VÀ HY SINH

Văn:

Kinh Thánh: Rô-ma 5: 6-10; 8: 32; I Giăng 4: 7-10.

Mùa Chay năm nay đã đến với tất cả những Cơ-đốc nhân trên toàn thế giới.
Bốn Mươi ngày trước Lễ Phục Sinh được những người tin Chúa gọi là mùa Chay (Lent).
Bắt đầu từ Thứ Tư Lễ Tro và kết thúc vào Thứ Năm Tuần Thánh trước Lễ Phục Sinh. Lễ Phục
Sinh luôn luôn rơi vào một Chúa Nhật trong khoảng thời gian giữa ngày 22 tháng 3 đến 25 tháng
4 hằng năm.  Vì vậy, Thứ Tư Lễ Tro có thể rơi vào bất cứ ngày Thứ Tư nào giữa ngày 4 tháng
2 và 10 tháng 3.

Mùa Chay là khoảng thời gian mà những người tin Chúa dành ra để suy niệm về tình yêu tuyệt
đỉnh của Thiên Chúa dành cho mình.

Con số “Bốn Mươi” mang nhiều ý nghĩa và nhắc ta nhớ đến nhiều sự kiện đã xảy ra trong Kinh
thánh như: Đức Chúa Trời làm trận Đại hồng thủy để hủy diệt nhân loại độc ác thời Nô-ê trong
bốn mươi ngày đêm. Bốn mươi ngày vị Lãnh tụ Môi-se chờ đợi trên Núi Sinai với Thiên Chúa
để nhận lãnh hai bảng Luật Pháp cho dân sự Ngài. Dân Y-sơ-ra-ên phải hành trình bốn mươi
năm trong sa mạc vì tội vô tín của mình trước khi đến Đất Hứa trong xứ Ca-na-an. Bài giảng
của Tiên Tri Giô-na cho dân thành Ni-ni-ve là “Còn bốn mươi ngày nữa, Ni-ni-ve sẽ bị đổ
xuống” (Sách Giô-na, chương 3, câu 4).

Thời gian bốn mươi ngày cũng nhắc ta nhớ đến bốn mươi ngày Chúa Giê-su kiêng ăn trước khi
chịu ma quỷ cám dỗ trong sa mạc và Ngài đã chiến thắng một cách vẻ vang nhờ vào Lời Kinh
Thánh và Thánh Linh của Đức Chúa Trời…

Nói đến tình yêu thì không thể nào không nói đến sự hy sinh, vì tình yêu thật luôn luôn có sự hy
sinh. Kinh Thánh dạy rằng: “Hỡi kẻ rất yêu dấu, chúng ta hãy yêu mến lẫn nhau; vì sự yêu thương
đến từ Đức Chúa Trời, kẻ nào yêu, thì sanh từ Đức Chúa Trời và nhìn biết Đức Chúa Trời.  Ai
chẳng yêu, thì không biết Đức Chúa Trời; vì Đức Chúa Trời là sự yêu thương. Lòng Đức Chúa
Trời yêu chúng ta đã bày tỏ ra trong điều nầy: Đức Chúa Trời đã sai Con một Ngài đến thế gian,
đặng chúng ta nhờ Con được sống.  (Sách Giăng thứ nhứt, chương 4, câu 7-9).

Những câu Kinh Thánh đó cho chúng ta biết Đức Chúa Trời là nguồn của tình yêu và chính Ngài
là sự yêu thương.
Đức Chúa Trời yêu tội nhân một cách chân thật, và một tình yêu như thế không thể không có sự
hy sinh. Ngài đã thật sự hy sinh vì tội nhân: “Nầy sự yêu thương ở tại đây: ấy chẳng phải chúng
ta đã yêu Đức Chúa Trời, nhưng Ngài đã yêu chúng ta, và sai Con Ngài làm của lễ chuộc tội
chúng ta” (Sách Giăng thứ nhứt, chương 4, câu 10).

Thánh Phao-lô cho biết: “Nhưng Đức Chúa Trời tỏ lòng yêu thương Ngài đối với chúng ta, khi
chúng ta còn là người có tội, thì Đấng Christ vì chúng ta chịu chết… Ngài đã không tiếc chính
Con mình, nhưng vì chúng ta hết thảy mà phó Con ấy cho, thì Ngài há chẳng cũng sẽ ban mọi sự
luôn với Con ấy cho chúng ta sao?” (Sách Rô-ma, chương 5, câu 8, và chương 8, câu 32).
Vì yêu thương nhân loại đang chết mất trong tội lỗi, nên Ngài đã không tiếc chính Con Một của
mình là Chúa Cứu Thế Giê-su, mà ban Con ấy cho chúng ta để cứu con người chúng ta ra khỏi
tội lỗi, ra khỏi bàn tay độc ác của Sa-tan.

Ai đó đã nói rằng “Nói yêu thương mà không có hy sinh thì chỉ là nói dối” là rất hữu lý!
Chính Chúa Giê-su đã từng phán: “Chẳng có sự yêu thương nào lớn hơn là vì bạn hữu mà phó
sự sống mình” (Sách Giăng, chương 15, câu 13).

Khi một ai đó đã yêu bạn đến độ sẵn sàng hy sinh mạng sống để cứu bạn ra khỏi chỗ chết, thì có
thể nói một cách chắc chắn và không sợ sai trật gì cả rằng, tình yêu của người đó dành cho bạn là
một tình yêu đích thực vậy.

Thánh Phao-lô cũng nhắc lại tình yêu tuyệt vời của Chúa Giê-su dành cho con người tội lỗi
chúng ta: “Ngài đã hiện ra như một người, tự hạ mình xuống, vâng phục cho đến chết, thậm chí
chết trên cây thập tự” (Sách Phi-líp, chương 2, câu 8).

Đức Chúa Giê-su đã yêu thương bạn và tôi bằng một tình yêu như thế!
Đó là một tình yêu tuyệt đỉnh và tuyệt đối! Không có ai yêu bạn và tôi như Chúa Giê-su đã yêu
bạn và tôi. Không có tình yêu nào lớn hơn thế! Chắc chắn không! Và nhất định không!

Có một câu chuyện về tình yêu cảm động như sau:
Vào thế kỷ thứ 17, vị Tể Tướng của Anh Quốc, một ngày kia đã kết án tử hình một người lính bị
vi phạm pháp luật. Đến ngày xử tử, người ta đợi cho tiếng chuông chiều cấm trại nổi lên là thi
hành lệnh bắn anh nầy. Nhưng đợi mãi chuông chiều không thấy đánh. Tể Tướng truyền lệnh tìm
ra lý do vì sao? Thì ra, cô người yêu của anh này, vì quá thương anh, nên đã trèo lên tận lầu
chuông cao, đu mình trên quả chuông, Vi thế, chuông có lắc mà không thể phát ra tiếng kêu.
Cảm động trước hành động yêu thương đầy can đảm của cô gái dành cho người yêu của mình,
nên quan tòa đã quyết định tha tội chết cho anh chàng tử tù nầy.

Còn rất nhiều những câu chuyện khác về sự hy sinh trong tình yêu rất cảm động trong cuộc sống
thường ngày; nhưng chắc chắn không thể nào có sự hy sinh nào trong tình yêu lớn như sự hy
sinh của Đấng Cứu Thế vì tội của nhân loại.

Yêu người mình yêu và sẵn sàng chết cho người mình yêu để đem lại hạnh phúc cho người mình
yêu, thì đó là một sự hy sinh đáng quý; nhưng cũng dễ hiểu, vì đó là người mình yêu và là người
yêu mình.

Yêu quý một thánh nhân và sẵn sàng chết cho thánh nhân đó, cũng là một sự hy sinh đáng trân
trọng ; nhưng cũng dễ hiểu, vì đó là một thánh nhân mình yêu.

Nhưng yêu một đối tượng mà không xứng đáng để yêu đó là những tội nhân xấu xa như chúng
ta; song Ngài vẫn yêu và bằng lòng chết cho những con người xấu xa ấy, để cứu họ ra khỏi tội
lỗi ; thì đó mới chính là một tình yêu cao cả tuyệt đối, một tình yêu không thể nào hiểu được
bằng trí óc hữu hạn của con người.

Một tình yêu cao cả tuyệt đối như thế chỉ có ở nơi Đức Chúa Trời mà thôi!
Và tình yêu ấy chỉ có thể được thể hiện qua một nhân vật duy nhất là Chúa Cứu Thế Giê-su,
Đấng vô tội duy nhất trong toàn cõi vũ trụ nầy!

Để kết thúc bài viết nầy, xin mời bạn cùng lắng nghe lại một khúc Kinh Thánh nói về sự hy sinh
cao quý của Chúa Giê-su dành cho chúng ta là những tội nhân:
“Thật vậy, khi chúng ta còn yếu đuối, Đấng Christ đã theo kỳ hẹn chịu chết vì kẻ có tội. Vả, họa mới có kẻ chịu chết vì người nghĩa; dễ thường cũng có kẻ bằng lòng chết vì người lành. Nhưng
Đức Chúa Trời tỏ lòng yêu thương Ngài đối với chúng ta, khi chúng ta còn là người có tội, thì
Đấng Christ vì chúng ta chịu chết. Huống chi nay chúng ta đã nhờ huyết Ngài được xưng công
bình, thì sẽ nhờ Ngài được cứu khỏi cơn thạnh nộ là dường nào! Vì nếu khi chúng ta còn là thù
nghịch cùng Đức Chúa Trời, mà đã được hòa thuận với Ngài bởi sự chết của Con Ngài, thì
huống chi nay đã hòa thuận rồi, chúng ta sẽ nhờ sự sống của Con ấy mà được cứu là dường
nào!”
(Sách Rô-ma, chương 5, câu 6-10). 

Chính nhờ sự hy sinh cao cả, vĩ đại có một không hai của Chúa Giê-su trong suốt cả cõi lịch sử
của con người, đã đem chúng ta từ địa vị một tội nhân thành thánh nhân; từ một người bị ở dưới
cơn thạnh nộ của Đức Chúa Trời thành một người được cứu ra khỏi nơi kinh khủng đó; từ địa vị
thù nghịch cùng Đức Chúa Trời thành một người được hòa thuận lại với Ngài.

Qua đó, chúng ta nhận biết, nếu Đức Chúa Trời không yêu thương con người tội lỗi chúng ta, và
nếu Đức Chúa Giê-su không xuống thế làm người để chịu chết chuộc tội cho chúng ta; thì con
người mãi mãi ở trong tội lỗi, ở trong sự cai trị độc ác của Sa-tan, và rồi sẽ chết mất dưới bàn tay tàn độc của nó. Con người mãi mãi không có hy vọng, không có bình an, không có sự cứu rỗi
nào cho con người cả.

Tạ ơn Đức Chúa Trời đã yêu thương nhân loại, và tạ ơn Đức Chúa Giê-su đã thể hiện tình yêu
của Đức Chúa Trời qua sự chết của Ngài trên thập tự giá, và rồi Ngài đã sống lại để mở ra cho
nhân loại một con đường mới và sống: Đó là con đường cứu rỗi phước hạnh, bình an!

Cảm tạ Chúa Giê-su đã chết để cho chúng ta được sống, và cảm tạ Ngài đã sống lại và sống mãi
mãi để cho chúng ta có thể được sống cho Ngài hôm nay cũng như sống với Ngài trong cõi đời
đời trong tương lai! A men!

California, Viết Nhân Mùa Chay 2024!
Mục Sư Nguyễn – Đình – Liễu

QUÊN QUÁ KHỨ

Thơ: Thanh Hữu

“Vậy, nếu ai ở trong Đấng Christ, thì nấy là người dựng nên mới; những sự cũ đã qua đi, nầy mọi sự đều trở nên mới. ” (II Cô-rinh-tô 5:17).

Có những lúc, ta nhớ hoài quá khứ,
Cứ nhắc đi, nghĩ lại sự qua rồi.
Dù chuyện đời nhiều năm tháng qua trôi,
Thêm vướng bận nỗi buồn vui hối tiếc.

Lời Chúa dạy hãy nhìn về phía trước,
Hãy quên đi bao quá khứ vui buồn.
Hãy tin rằng Chúa dẫn dắt ta luôn,
Theo mục đích, trong trong chương trình vinh diệu.

Đường trần gian có nhiều khi khúc khuỷu,
Nhiều nan đề, nhiều đá sỏi, gai chông.
Nhiều ủi an, khích lệ hay đau lòng,
Hãy chấp nhận, để trôi vào quên lãng.

Dù quá khứ, bao lỗi lầm sai phạm,
Chúa tha rồi, Ngài ném bỏ cách xa. (1)
Ở trong Chúa, mọi sự cũ bỏ qua,
Nhìn phía trước, bước đi tầm nhìn mới. (2)

Bao cơ hội, đang sẵn sàng mong đợi,
Mời ta vào phục vụ Chúa, tha nhân.
Đem khả năng, ân tứ để dự phần,
Vào vương quốc của nước trời muôn thuở.

Cả thế giới, nền văn minh tạm bợ,
Sẽ suy tàn, đốt cháy ở tương lai. (3)
Chỉ hồn linh được cứu rỗi trong Ngài,
Sẽ tồn tại như sao mai chiếu sáng. (4)

Hãy vui lên, để hồn linh thanh thản,
Trong vui mừng, trong trông cậy, tín trung. (5)
Ngày mai đây, ngày phước hạnh tương phùng,
Bên chân Chúa, giữa trời mây vinh hiển.

THANH HỮU
Tháng 4 năm 2024
_______________

(1) Ê-sai 43:25
(2) Phi-líp 3:14
(3) 2 Phi-e-rơ 3:7
(4) 2 Phi-e-rơ 1:19 , Khải-huyền 2:28
(5) Phi-líp 4:4

Một tình trạng hoàn tất

Dưỡng Linh: Greg Laurie

04-10-2024

Vì chính Chúa Kitô đã mang lại hòa bình cho chúng ta. Ngài đã hợp nhất người Do Thái và dân ngoại thành một dân tộc khi, trong chính thân xác của mình trên thập tự giá, Ngài đã phá bỏ bức tường thù địch ngăn cách chúng ta. (Ê-phê-sô 2:14 NLT)

Một trong những sự kiện đáng nhớ nhất trong lịch sử nhân loại đương đại là sự sụp đổ của Bức tường Bá-linh. Được xây dựng vào năm 1961, nó là biểu tượng cho sự chuyên chế của Chủ nghĩa Cộng sản và sự đàn áp của nó đối với người dân dưới sự kiểm soát của nó.

Sau Thế chiến thứ hai, nước Đức bị chia cắt, Liên Xô chiếm Đông Đức và Đông Bá-linh. Cuối cùng, họ đã xây dựng một bức tường xung quanh nó, chia cắt đất nước. Một số người đã cố gắng trốn thoát và nhiều người đã thiệt mạng trong quá trình này.

Năm 1987, Tổng thống Reagan đã có bài phát biểu nổi tiếng hiện nay ở đó: “Mr. Gorbachev, hãy phá bỏ bức tường này đi!” Gorbachev, lãnh đạo Liên Xô lúc bấy giờ đã không làm điều đó, nhưng cuối cùng người dân Đông Đức đã làm. Đó là khoảnh khắc tuyệt vời cho tự do khi bức tường đó sụp đổ.
Ngược dòng lịch sử xa hơn, một bức tường khác đã sụp đổ cũng là biểu tượng của sự chuyên chế và nô lệ. Đó là bức tường tội lỗi mà Chúa Giê-xu Christ đã phá bỏ vì những gì Ngài đã làm cho chúng ta trên thập tự giá.

Chúng ta đọc về điều đó trong Ê-phê-sô 2:14: “Vì chính Đấng Christ đã mang lại hòa bình cho chúng ta. Ngài đã hợp nhất người Do Thái và người ngoại thành một dân tộc khi, trong chính thân xác của mình trên thập tự giá, Ngài đã phá vỡ bức tường thù địch đã ngăn cách chúng ta” (NLT).

Người ta nói rằng bạn có thể biết độ sâu của giếng bằng cách phải hạ dây xuống bao nhiêu. Khi chúng ta nhìn xem Đức Chúa Trời đã thả bao nhiêu sợi dây từ trên trời xuống khi Ngài sai Con Ngài đến chết vì tội lỗi của chúng ta, chúng ta nhận ra cái giếng này thực sự sâu đến mức nào.

Tôi thật ngạc nhiên khi có nhiều người thản nhiên xem xét những lời tuyên bố của Chúa Giê-su, hành động như thể họ có toàn bộ thời gian trên thế giới để sắp xếp các ý tưởng tôn giáo khác nhau và đi đến kết luận của riêng mình. Họ nghiên cứu các hệ tư tưởng tôn giáo giống như họ đang xem thực đơn và quyết định xem nên ăn gì cho bữa tối.

Họ có thể bắt đầu với một trật tự nhỏ của Cơ đốc giáo, nhưng họ muốn giữ tội lỗi về điều đó. Có thể họ sẽ có một khía cạnh của Ấn Độ giáo pha trộn một chút chủ nghĩa thần bí. Họ nghĩ rằng họ có thể chọn những gì họ thích—hoặc thậm chí chọn lựa theo kiểu gọi món. Nhưng họ không thấy tình hình của họ thực sự nghiêm trọng đến mức nào.

Điều họ không nhận ra là họ đang ở giữa sa mạc. Họ bị mất nước và chết đói mà không có nguồn lực nào để mua thức ăn hoặc nước uống. Họ đang gặp rắc rối. Nhưng đột nhiên Chúa xuất hiện và đặt trước mặt họ một bàn tiệc tuyệt ngon, chứa đầy những vật hảo hạng bậc nhất. Và Ngài mời họ đến dùng bữa.

Về cơ bản, họ có quyền lựa chọn: họ có thể ăn và dự phần những gì Chúa ban cho họ, hoặc họ có thể từ chối ăn và chết vì quyết định của mình. Nhưng cái giá cho bữa tiệc đã được trả rồi. Họ không cần làm gì thêm để có được nó.

Đây là tình trạng của nhân loại. Đức Chúa Trời đã bày ra cho chúng ta một con đường rõ ràng để bước đi và nhận biết Ngài. Và đó là cách duy nhất để có được mối quan hệ với Ngài.

Greg Laurie (Nhã Ca lược dịch)

KHI TÔI YẾU ĐUỐI, LÀ LÚC TÔI MẠNH MẼ

Thơ: Thanh Hữu

Vậy, tôi sẽ rất vui lòng khoe mình về sự yếu đuối tôi, hầu cho sức mạnh của Đấng Christ ở trong tôi. Cho nên tôi vì Đấng Christ mà đành chịu trong sự yếu đuối, nhuốc nha, túng ngặt, bắt bớ, khốn khó; vì khi tôi yếu đuối, ấy là lúc tôi mạnh mẽ.” (2 Cô-rinh-tô 12:8-10)

Có những lúc ta thấy mình mệt mỏi,
Giữa trần gian đầy bão tố sóng cồn.
Cảm sức mình thật nhỏ bé cỏn con,
Đang chèo chống giữa ba đào. Đuối sức.

Có những lúc như thấy mình bất lực,
Ngước mắt nhìn, trông bờ bến còn xa.
Tay chống chèo, giữa mưa gió phong ba,
Lòng sờn ngã, tâm linh thường bối rối, (1)

Phao-lô đã, kinh nghiệm trong yếu đuối,
Không tự mình, tự sức cố vươn lên.
Giữa khó khăn, bắt bớ cứ nhiều thêm,
Chịu thử thách, giữa nhuốc nha túng ngặt. (2)

Ông ý thức trong tình yêu bền chặt,
Nhờ linh quyền, ân điển Chúa thừa dư.
Trao khó khăn, nhờ sức Chúa tiêu trừ,
Giữa yếu đuối nhận Linh Năng mạnh mẽ. (3)

Đã bao lần ta thấy mình nhỏ bé,
Nương cậy Ngài, trao Chúa việc lớn lao. (4)
Khi yếu đuối, nhờ sức Chúa tuôn trào,
Thành mạnh mẽ để thành công đắc thắng.

Năng lực Chúa sẽ cất đi gánh nặng, (5)
Cất nan đề to lớn khỏi hồn thân.
Trong quyền năng nhận sức mới linh ân,
Đầy phấn khích, lòng tạ ơn mãn nguyện.

Hãy vui thỏa, trong Linh Năng bất biến,
Trong phước lành, trong chăm sóc tuyệt luân.
Cùng hoan ca, chúc tụng Chúa, vui mừng,
Về ân sủng, tình yêu vô bờ bến.

THANH HỮU
Tháng 3 năm 2024
___________________ __

(1) Thi-thiên 43:5
(2) 2 Cô-rinh-tô 12:9
(3) 2 Cô-rinh-tô 12:10
(4) Giê-rê-mi 33:3
(5) Ma-thi-ơ 11:28